TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 534/2023/HS-ST Ngày: 15/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Công Huấn
Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thụ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Châu
- Ông Bùi Quang Việt
- Ông Phạm Văn Hễ
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Quốc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 15/11/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 739/2023/HSST ngày 04/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 5052/2023/QĐXXST-HS ngày 02/11/2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Liêu Văn Đ; giới tính: nam; sinh năm 1957 tại tỉnh L; nơi đăng ký thường trú: số D, Tổ C, Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;tôn giáo: không; nghề nghiệp: bảo vệ; con ông Nguyễn Văn T (còn có tên gọi là Nguyễn Văn C, đã chết) và bà Liêu Thị U (chết); hoàn cảnh gia đình: vợ đã ly hôn tên Nguyễn Thị Thu H, không có con;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 21/9/1981, Công an Quận 6 bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Xác minh tại Công an Quận 6, không có thông tin xử lý;
- Ngày 30/8/1982, Công an Quận 6 bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; xác minh tại Công an Quận 6, không có thông tin xử lý.
- Ngày 05/01/1985, bị Công an Quận 5 bắt về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, không rõ việc xử lý
- Ngày 25/4/1985, Công an Quận 11 bắt về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ủy ban nhân dân Quận 11 có Quyết định số 96 ngày 17/7/1985, cưỡng bức lao động 24 tháng.
- Ngày 28/12/1987, Công an Quận 11 bắt về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, ngày 13/02/1988, Viện Kiểm sát miễn tố-tha.
- Ngày 30/10/1989, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (bản án hình sự phúc thẩm số 279/HSPT) (đã thi hành xong phần án phí hình sự, án phí dân sự, sung công và bồi thường thiệt hại; đối với phần chấp hành án phạt tù hiện không có thông tin).
- Ngày 09/11/1993, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (bản án hình sự sơ thẩm số 117/HSST); chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 06/12/1997 tại Trại giam Đồng Tháp - Bộ Công an.
Tạm giữ: 21/8/2022;
Tạm giam: 30/8/2022;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Hải B, luật sư Văn phòng L, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Đ1; sinh năm 1983; nơi cư trú: số H đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn H1; sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ C, Ấp A, xã V, huyện B; Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
- Ông Hồ Hoàng Q; sinh năm 1982; nơi cư trú: nhà F, Tổ C, Ấp A, xã V, huyện B; Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 25 phút ngày 21/8/2022, ông Lê Văn H1 đến Phòng trọ Số 3 nhà trọ không số, Tổ C, Ấp F, xã V, huyện B, mời bị cáo Liêu Văn Đ mua vé số nhưng Đ không mua và hai bên xảy ra cãi nhau. Sau đó, ông H1 đi ra ngoài cổng khu nhà trọ thì Đ đuổi theo. Đực nhặt được 01 cái cuốc (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại) để ở bên phải cổng khu nhà trọ, dùng cuốc đánh vào lưng ông H1 làm cán cuốc bị gãy, rơi lưỡi cuốc xuống đất. Đực nhặt lưỡi cuốc và tiếp tục dùng lưỡi cuốc đánh vào đầu ông H1. Ông H1 dùng tay đỡ nên bị đánh trúng vào bàn tay trái. Thấy vậy, mọi người can ngăn, kéo Đ vào phòng trọ. Còn ông H1 thì đi đến Công an xã V, huyện B trình báo sự việc.
Sau khi tiếp nhận tin trình báo của ông H1, Công an xã V, huyện B cử ông Nguyễn Ngọc Đ1 là Cảnh sát khu vực và anh Nguyễn Tuấn Đ2 là cán bộ phòng chống tội phạm Công an xã V, mặc quân phục Công an nhân dân, cùng với ông Nguyễn Trường S (tổ T, Ấp F, xã V, huyện B) đến phòng trọ của bị cáo Đ để xác minh, làm rõ sự việc và mời Đ về trụ sở Công an xã V để làm việc. Tuy nhiên, Đ không chấp hành nên ông Nguyễn Ngọc Đ1 đi ra đứng tại khu vực cổng khu nhà trọ, cách phòng trọ của Đ khoảng 10m. Lúc này, Đ lấy con dao tự chế dài khoảng 92cm, lưỡi dao có cạnh sắc (để ở tủ kính trong phòng trọ của Đ), chạy đến chém ông Ngọc Đ1. Thấy Đ cầm dao xông đến, ông Nguyễn Ngọc Đ1 bỏ chạy ra ngoài đường nội bộ. Chạy được khoảng 10m thì ông Nguyễn Ngọc Đ1 bị vấp ngã. Đực cầm con dao bằng tay phải, chạy đến chém 02 nhát vào vùng đầu của ông anh Ngọc Đ1. Khi Đ tiếp tục chém thì ông Hồ Hoàng Q (là người ở gần khu trọ) chạy đến ngăn cản, tước con dao của Đ. Ông Q cùng mọi người khống chế, đưa Đ về trụ sở Công an xã V, tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ con dao mà bị cáo đã dùng để chém ông Nguyễn Ngọc Đ1. Còn ông Nguyễn Ngọc Đ1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T1.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ một số vật chứng như sau:
- 01 con dao tự chế dài khoảng 92cm, lưỡi dao màu trắng có 1 cạnh sắc dài khoảng 70cm, bản rộng 4,5cm, cán dao dài khoảng 22cm;
- 02 khúc gỗ (từ cán cuốc bị gãy);
- 01 lưỡi cuốc bằng kim loại;
- 01 bộ quần áo của Liêu Văn Đ mặc khi gây án (đã niêm phong);
- 01 bộ quân phục Công an nhân dân của anh Nguyễn Ngọc Đ1 mặc vào thời điểm xảy ra vụ án (đã được niêm phong).
Căn cứ Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 1080/TgT.22 ngày 04/01/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh (bl.100-103) và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tình trạng thương tích của ông Nguyễn Ngọc Đ1 và các nội dung khác có liên quan đến vụ án được xác định như sau:
- Vết thương vùng đỉnh sau gây đứt da, gãy vát xương sọ có mảnh rời (ảnh 1, 2, 3) đã được điều trị phẫu thuật lấy bỏ mảnh rời, khâu vết thương, hiện còn: 01 sẹo kích thước 15 x(0,05-0,2)cm (ảnh 4, ảnh 5); hình ảnh khuyết kèm nứt sọ đỉnh trên phim chụp cắt lớp vi tính (ảnh 6, 7). Tình trạng ổn định. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
- Vết thương vùng tai trái gây đứt da, sụn vành tai đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 12,5x0,1cm (ảnh 8, 9), ổn định. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng.
- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 27%.
- Con dao tự chế thu giữ được của Đ có thể gây ra được tất cả các thương tích trên.
Ông Lê Văn H1 cho biết thương tích bị cáo gây ra cho ông không đáng kể nên ông từ chối đi giám định và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Ông Đ1 và ông Q (người bị thương tích nhẹ ở tay khi tước dao của bị cáo) không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cơ quan điều tra, Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu. Đ khai rằng khi ông Nguyễn Ngọc Đ1 đến mời bị cáo về trụ sở làm việc thì sắp đến giờ bị cáo đi làm. Vì bực tức, bị cáo đã chém ông Nguyễn Ngọc Đ1.
Tại bản Cáo trạng số 514/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 29/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu. Tuy nhiên, bị cáo khai rằng khi anh Đ1 đến, anh Đ1 đã chửi thề và có lời lẽ xúc phạm bị cáo, vì tức giận nên bị cáo đã chém anh Đ1.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội như sau:
Căn cứ lời khai của bị cáo, kết quả giám định, các tài liệu, chứng cứ thu thập được, có đủ cơ sở để xác định truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử kết án các bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng.
Áp dụng điểm d, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự),
Xử phạt bị cáo từ 12 đến 13 năm tù về tội “Giết người”.
Ghi nhận việc bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.
Xử lý vật chứng theo quy định.
Luật sư bào chữa cho bị cáo như sau:
Luật sư đồng tình với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, việc xác định bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ là chưa thỏa đáng, bởi lẽ theo bị cáo khai trình thì bị hại đã chửi thề và xúc phạm bị cáo, kích động tinh thần bị cáo; mặc dù giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, nhưng hành vi của bị cáo đã bị thu hút vào tình tiết định khung “Giết người đang thi hành công vụ”. Do vậy, đề nghị Hội đồng cân nhắc xem xét nội dung này. Bị cáo là người cao tuổi; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được người bị hại bãi nại; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; thương tích gây ra cho bị hại là có phần hạn chế. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết đã nêu để xử phạt bị cáo với mức án dưới mức mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo đồng ý với ý kiến bào chữa của luật sư, không có ý kiến bào chữa bổ sung; chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, xử phạt bị cáo với mức án nhẹ để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
Kiểm sát viên tranh luận như sau: Người bị hại chỉ có văn bản không yêu cầu bị cáo bồi thường, không có văn bản xin giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy, không có căn cứ áp dụng tình tiết bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Giữa bị hại và bị cáo không có mâu thuẫn nhưng bị cáo đã dùng dao chém vào vùng đầu bị hại, nên việc xác định bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ là đúng quy định. Bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử lý nghiêm. Về các tình tiết khác mà luật sư nêu ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2].Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có căn cứ để xác định:
Vào khoảng 10 giờ 25 phút ngày 21/8/2022, ở tại khu vực nhà trọ không số, Tổ C, Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do có mâu thuẫn với người bán vé số là ông Lê Văn H1, xuất phát từ việc ông H1 mời bị cáo mua vé số nhưng bị cáo không mua, bị cáo đã có hành vi dùng cuốc đánh ông H1, nhưng ông H1 dùng tay đỡ được nên thương tích không đáng kể. Sau đó, ông H1 đã trình báo sự việc với Công an xã V. Được sự phân công của Ban chỉ huy Công an xã V, ông Nguyễn Ngọc Đ1 (cảnh sát khu vực) và anh Nguyễn Tuấn Đ2 là cán bộ phòng chống tội phạm Công an xã V, mặc quân phục Công an nhân dân, cùng với ông Nguyễn Trường S (tổ trưởng Tổ C, Ấp F, xã V) đến khu vực nhà trọ mời Đực về trụ sở để làm việc. Bị cáo không chấp hành mà còn có hành vi dùng dao tự chế dài 92cm chém 02 nhát vào vùng đầu của ông Nguyễn Ngọc Đ1. Trong lúc bị cáo định tiếp tục chém ông Nguyễn Ngọc Đ1 thì ông Hồ Hoàng Q (là người ở gần khu trọ) cùng mọi người khống chế tước đoạt dao của bị cáo nên không thể tiếp tục thực hiện hành vi chém ông Nguyễn Ngọc Đ1.
Theo kết quả giám định, ông Nguyễn Ngọc Đ1 bị gãy vát xương sọ có mảnh rời, vết thương nguy hiểm đến tính mạng; ngoài ra, con bị đứt da, sụn vành tai; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 27%.
[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của công dân; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến trật tự công cộng. Bị cáo biết rõ rằng ông Nguyễn Ngọc Đ1 là công an khu vực, đang thi hành công vụ. Khi ông Đ1 và những người trong cùng tổ công tác mời bị cáo về trụ sở làm việc, bị cáo không chấp hành. Ông Đ1 và những người trong cùng tổ công tác chưa có bất kỳ hành vi nào mang tính cưỡng chế đối với bị cáo nhưng bị cáo lại chủ động dùng dao tự chế dài 92cm tấn công vào những vùng trọng yếu trên cơ thể ông Đ1. Nhờ vào sự may mắn và có sự can thiệp kịp thời của quần chúng nhân dân nên ông Đ1 mới thoát chết. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường tính mạng, sức khỏe người khác, mang tính chất côn đồ.
[4]. Về nội dung bào chữa của luật sư và của bị cáo:
Bị cáo khai trình bị hại đã chửi thề và có lời nói xúc phạm bị cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để xem xét.
Trong vụ án này, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn hoặc thù hằn cá nhân, bị hại là thực hiện công vụ nhưng bị cáo đã tấn công bị hại và không có cảnh báo trước; trước đó, bị cáo cũng đã vô cớ tấn công ông Lê Văn H1 với nguyên nhân không rõ ràng. Từ những căn cứ đã nêu, cho thây bị cáo luôn có ý thức giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực, dù rằng mâu thuẫn là không đáng kể - đây là một trong những dấu hiệu đặc trưng để xác định hành vi phạm tội có tính chất côn đồ.
Luật pháp cũng không quy định các tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự có tính loại trừ lẫn nhau hoặc có thể thu hút vào nhau. Do vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm d và n khoản 1 Điều 123 là có căn cứ. Việc luật sư đề nghị loại bỏ tình tiết định khung “phạm tội có tính chất côn đồ” là không có cơ sở.
Tại cơ quan điều tra, bị hại có văn bản thể hiện việc không yêu cầu bồi thường. Việc này không có nghĩa là bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, việc luật sư B lấy lý do bị hại không yêu cầu bồi thường để đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Các tình tiết khác mà luật sư nêu ra để xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5]. Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với các quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung hình phạt là “giết người đang thi hành công vụ” và “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
[6].Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên được áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự khi xem xét lượng hình.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân không tốt, đã 02 lần bị Tòa án các cấp kết án về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và nhiều lần có hành vi phạm pháp luật hành chính. Do vậy, cần được lưu ý xem xét khi lượng hình.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người cao tuổi (67 tuổi); thương tích gây ra cho bị hại ở mức độ có hạn chế. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng đối với bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7]. Về các biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 585 Bộ luật sự 2015, xử lý như sau:
Bị hại Nguyễn Ngọc Đ1, ông Lê Văn H1 và ông Hồ Hoàng Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, cần được ghi nhận.
Đối với bộ quân phục của ông Nguyễn Ngọc Đ1: Là tài sản của ông Nguyễn Ngọc Đ1, cần giao trả cho ông Nguyễn Ngọc Đ1.
Đối các vật chứng còn lại: Là phương tiện phạm tội, vật là tài sản của bị cáo có mang dấu vết tội phạm, vật có liên quan đến tội phạm nhưng không còn sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7].Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 585 Bộ luật dân sự năm 1015,
1.Xử phạt bị cáo Liêu Văn Đ 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2022.
2. Về các biện pháp tư pháp:
Ghi nhận theo hồ sơ vụ án việc ông Nguyễn Ngọc Đ1, ông Lê Văn H1, ông Hồ Hoàng Q không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Giao trả lại cho ông Nguyễn Ngọc Đ1: 01 gói niêm phong, bên trong là 01 bộ quân phục Công an nhân dân của đồng chí Nguyễn Ngọc Đ1.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 con dao tự chế dài khoảng 92cm, lưỡi dao màu trắng có 1 cạnh sắc dài khoảng 70cm, bản rộng 4,5cm, cán dao dài khoảng 22cm;
- 02 khúc gỗ (từ cán cuốc bị gãy);
- 01 lưỡi cuốc bằng kim loại;
- 01 gói niêm phong, bên trong là 01 bộ quần áo của Liêu Văn Đ mặc khi gây án;
Các vật chứng đã nêu hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo biên bản bàn giao tang tài vật số NK2024,047 ngày 13/11/2023 được lập giữa Cục thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh và PC01 Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
3.Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4.Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Công Huấn |
Bản án số 534/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội giết người
- Số bản án: 534/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liêu Văn Đ phạm tội “Giết người”
