Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TH


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 534/2021/HSST

Ngày: 27/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH

Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện

2. Bà Nguyễn Thị Kim Loan

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung, Thư ký Toà án nhân dân thành phố TH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 533/HSST ngày 05/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 550/2021/QĐXXST-HS ngày 12/10/2021 đối với bị cáo

Họ và tên: Phạm Huy H, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1999.

Tên gọi khác: Kg. Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Xóm Trại Cài, xã Minh Lập, huyện Đồng hỷ, tỉnh TH.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Kg; Trình độ học vấn: 9/12.

Nghề nghiệp: Kg; Chức vụ trước khi phạm tội: Kg; Con ông: Phạm Xuân V, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị G, đã chết; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Kg.

Tiền sự: Quyết định xử phạt số 59077 ngày 13/1/2021 của Công an thành phố TH xử phạt Phạm Huy H 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Hiện chưa chấp hành.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến nay). Có mặt tại phiên tòa

Người bị hại: Anh Lê Viết C, sinh năm 1974 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Tổ 09, phường H Văn Thụ, thành phố TH

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Xóm Sơn Tiến, xã Quyết Thắng, Thành phố TH

1

Người làm chứng: Anh Hà Văn K, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn Nà Trót, xã Tân Phú, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Huy H là đối tượng Kg có nghề nghiệp (H đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/01/2021). Khoảng 23 giờ ngày 18/6/2021, H đang ở phòng trọ tại khu vực trường Đại học Sư phạm TH thuộc phường Quang Trung, thành phố TH thì có Hà Văn K (sinh năm: 1990, HKTT: Thôn Nà Trót, xã Trần Phú, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu vàng đen mang BKS: 20B1- 194.78 (là xe của anh Nguyễn Văn Thủy, sinh năm: 1995, HKTT: xã Quyết Thắng, thành phố TH, cho K mượn để sử dụng) đến rủ H đi bắn chim. Sau đó K chở H ngồi sau cầm theo bật cao su đi đến khu vực phường H Văn Thụ thì phát hiện thấy 01 con mèo lông trắng có khối lượng khoảng 2kg của gia đình ông Lê Viết C (sinh năm: 1974, HKTT: tổ 9, phường H Văn Thụ, thành phố TH). Do trời tối, xung quanh Kg có người, nên cả hai đã nảy sinh ý định trộm cắp con mèo trên về để nuôi. Sau đó K điều khiển xe máy phi lướt qua con mèo còn H ngồi sau dùng bật cao su bắn về phía con mèo nhưng Kg trúng. Sau đó K điều khiển xe lại gần con mèo rồi K xuống xe túm đuôi bắt trộm được con mèo, H chuyển từ sau xe lên rồi điều khiển xe mô tô chở K cùng con mèo quay về phòng trọ. Khoảng 01 giờ ngày 19/6/2021, có anh Nguyễn Văn Thủy đến để lấy xe mô tô về thì nhìn thấy con mèo lông dài màu trắng trên nên đã xin K về nuôi và được K đồng ý. Sau đó Thủy điều khiển xe mô tô mang theo con mèo trên về nhà tại xóm Sơn Tiến, xã Quyết Thắng, thành phố TH. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 19/6/2021 ông Lê Viết C phát hiện con mèo đã bị trộm cắp nên đã trình báo sự việc đến Công an phường H Văn Thụ, thành phố TH. Đến 17 giờ cùng ngày, Công an phường H Văn Thụ đã thu hồi được con mèo trên từ anh Nguyễn Văn Thủy.

Tại Bản kết luận số 219/HĐĐGTS ngày 16/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố TH kết luận: 01 con mèo lông màu trắng, giống mèo Anh lông dài, nặng 2,6kg có giá trị là 1.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Huy H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai nhận của H phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, dữ liệu camera cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án là:

  • - 01 con mèo Anh lông dài, lông màu trắng, nặng 2,6kg, đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Viết C quản lý. Ông C Kg có yêu cầu, đề nghị gì
  • - 01 xe mô tô YAMAHA SIRIUS màu đen vàng, BKS: 20B1- 194.78, đã qua sử dụng, đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Th quản lý, sử dụng.

2

  • - 01 chiếc USB, nhãn hiệu Kingston DTSE9, dung lượng 4GB, vỏ kim loại màu bạc, có chứa 02 tập tin video có nội dung ghi lại hình ảnh hành vi bắt trộm con mèo của H và K được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 537/CT-VKSTPTN ngày 04/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH đã quyết định truy tố Phạm Huy H về tội " Trộm cắp tài sản" theo điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Phạm Huy H khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Huy H phạm tội " Trộm cắp tài sản". Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Huy H từ 09 tháng đến 12 tháng tù; Kg áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản Kg có yêu cầu gì; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Kg có yêu cầu gì nên Kg xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, Kg bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Kg có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] . Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Phạm Huy H đã có hành vi trộm cắp 01 con mèo Anh lông dài, lông màu trắng, nặng 2,6kg, trị giá là 1.000.000 đồng của anh Lê Viết C rồi đem cho anh Hà Văn Thủy mang về nuôi. Hiện tài sản đã thu hồi được và trả lại cho anh C quản lý. Mặc dù tài sản H trộm cắp được có trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng ngày 13/01/2021 H bị Công an thành phố TH ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài

3

sản”, đến nay H chưa nộp phạt khoản tiền trên. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3]. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Nội dung Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo Kg giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

a, Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...”

[4]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự: Quyết định xử phạt số 59077 ngày 13/1/2021 của Công an thành phố TH xử phạt Phạm Huy H 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, hiện chưa nộp phạt khoản tiền trên, tuy nhiên bị cáo Kg lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Kg phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa C. Cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo có thái độ ăn năn hối lỗi, thành khẩn khai báo, giá trị tài sản Kg lớn nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cùng thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.

4

Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, nhưng xét thấy bị cáo Kg có nghề nghiệp, Kg có tài sản gì riêng nên Kg áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[6]. Về các vấn đề khác:

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Viết C đã nhận lại tài sản nên Kg có yêu cầu gì đối với bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Kg có yêu cầu gì nên Kg xem xét.

Trong vụ án này có Hà Văn K cùng Phạm Huy H bắt trộm con mèo giống Anh của ông Lê Viết C nhưng K chưa có tiền án, tiền sự về tội chiếm đoạt tài sản nên Công an thành phố TH đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K.

Đối với anh Nguyễn Văn Th là người cho K mượn xe mô tô BKS: 20B1- 194.78, anh Thủy Kg biết H, K sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH Kg xem xét xử lý là có căn cứ. Thủy là người được H cho con mèo về nuôi nhưng Kg biết đây là tài sản do H trộm cắp, Thủy đã trả lại con mèo trên nên Kg xem xét xử lý.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huy H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Phạm Huy H: 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2021. Kg áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điều 329 BLTTHS, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Kg có yêu cầu gì nên Kg xem xét.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định.

5

Nơi nhận:

  • - VKSND, Tỉnh, TP;
  • - Công an TPTN;
  • - THA phạt tù;
  • - Sở Tư pháp TN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Anh Thư

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.

6

--- PHỤ LỤC: CÁC VĂN BẢN KHÁC TRONG TÀI LIỆU GỐC ---

Nơi nhận:

  • - VKSND TPTN ;
  • - TAND tỉnh TN;
  • - Công an TPTN;
  • - THADS TPTN;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - L- u hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đồng Huy Hưởng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TH


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 02/2018/HSST- QĐ

Ngày: 13/8/2018

TH, ngày 13 tháng 8 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH

Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đồng Huy Hưởng

Các hội thẩm nhân dân: .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Căn cứ Khoản 4 Điều 91, Điều 96 Bộ luật hình sự, Điều 430 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 13/8/2018 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo Hà Sỹ Phúc, sinh ngày 08/9/2001.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm Ấp Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh TH

Về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 2: Thời hạn áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là12 (mười hai) tháng, tính từ ngày chấp hành bản án.

Điều 3: Trường giáo dưỡng nơi giáo dục người bị áp dụng biện pháp có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:

  • - Người bị áp dụng;
  • - Cha, mẹ của người bị áp dụng;
  • - Trường giáo dưỡng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đồng Huy Hưởng

7

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư

Nơi nhận:

  • VKSND, Tỉnh, TP;
  • - Công an TPTN;
  • - THA phạt tù;
  • - Sở Tư pháp TΝ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Anh Thư

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. TH;
  • - Công an TP. ΤΗ;
  • - TAND tỉnh TH;
  • - THADS TP. TH;
  • - THA phạt tù;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

H Quý Sửu

8

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Thái Nguyên, ngày 13 tháng 8 năm 2018

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Hồi 11 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 8 năm 2018

Tại Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Huy Hưởng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa, ông Nguyễn Quang Huy

Tiến hành nghị án vụ án hình sự thụ lý số 302/2018 /HSST ngày 18/7/2018 đối với các bị cáo Nông Văn Luân, Hà Sỹ Phúc

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh: Các bị cáo Nông Văn Luân, Hà Sỹ Phúc phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về mức hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Nông Văn Luân 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 11/5/2018.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Nông Văn Luân 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

9

Căn cứ khoản 4 Điều 91, Điều 96 Bộ luật hình sự, Kg áp dụng hình phạt đối với bị cáo Hà Sỹ Phúc.

- Áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo Hà Sỹ Phúc 12 (mười hai) tháng. Thời hạn chấp hành biệp pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng tính từ ngày chấp hành bản án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

3. Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 03 chìa khóa xe mô tô đã qua sử dụng do Nông Văn Luân giao nộp đang được bảo quản tại kho vật chứng của chi Cục thi hành án dân sự thành phố TH chờ xử lý.

- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo Nông Văn Luân, Hà Sỹ Phúc, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: 3/3

- Về quyền kháng cao: Các bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định.

Kết quả biểu quyết: 3/3

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đồng Huy Hưởng

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 534/2021/HSST ngày 27/10/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 534/2021/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Phạm Huy H 08 tháng tù về tội Trộm cắp TS theo điểm a, K1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger