|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 533/2023/DS-PT Ngày 30/10/2023 "V/v Tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Thơm;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Phan Nam;
Ông Phùng Hải Hiệp.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Thanh Huyền – Thẩm tra viên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Diệu Nhân - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 110/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1140/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Địa chỉ liên hệ: HH A L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1967;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đức L, sinh năm 1962; cùng trú tại: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D - Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Xuân K - Phó Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1951; địa chỉ: Căn hộ A, Chung cư N, Đ, khu đô thị L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1959 (Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2020/QÐST-VDS ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương tuyên bố bà L1 là người bị mất năng lực hành vi dân sự); địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1962;
- Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, số nhà A, phố H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Nhà số E, đường T, tổ C, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Anh Chu T1, sinh năm 1980; địa chỉ: P, Chung cư P, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.
- Anh Chu Anh N2, sinh năm 1982; địa chỉ: P Tòa S, Chung cư V - Skylake P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
- Ông Phạm Đức L, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị C (Văn bản ủy quyền ngày 15/5/2019).
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Xuân N1, sinh năm 1949 (Văn bản ủy quyền ngày 20/6/2019); cùng trú tại: Nhà số B, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Đỗ Thị C trình bày:
Cụ Đỗ Đình H2 và cụ Bùi Thị N3 sinh được 09 người con gồm: Bà Đỗ Thị H, bà Đỗ Thị D1 (chết năm 1990), bà Đỗ Thị C, bà Đỗ Thị L1, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị Y, bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị Tuyết . Cụ N4 chết tháng 11/2009, cụ N3 chết tháng 5/2017. Tài sản của hai cụ là quyền sử dụng 66,7m² đất tại thửa số 194, tờ bản đồ số 9 tại thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình và số tiền đóng góp xây dựng ngôi nhà 3 tầng trên đất là 150.000.000 đồng.
Hai cụ sử dụng thửa đất nêu trên đến khoảng năm 2008 thì cho bà Y và ông Phạm Đức L (chồng bà Y) ở nhờ để làm may và bán hàng trên đất. Tài sản trên đất có 3 gian nhà cấp bốn lợp ngói. Năm 2009 do nhà bị dột nên vợ chồng ông L, bà Y đã tháo dỡ nhà cấp 4 của các cụ để xây dựng ngôi nhà 3 tầng như hiện nay. Quá trình xây dựng, các cụ đóng góp tiền cho ông L, bà Y 150.000.000 đồng và ở cùng với ông L, bà Y. Ngoài ra, hai cụ còn chi 50.000.000 đồng để mua bàn ghế, xa lông, ti vi, giường inox, tủ gỗ.
Bà Y tự ý cùng cán bộ xã kê khai làm thủ tục nên hiện nay diện tích đất của cụ H2, cụ N3 đứng tên bà Đỗ Thị Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG762145 do Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện K cấp ngày 18/7/2011; các chị em trong gia đình không biết và không ký các giấy tờ liên quan. Theo hồ sơ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện có bản di chúc thừa kế tài sản của cụ H2, cụ N3 lập ngày 08/4/2009 có chứng thực của UBND xã V với nội dung hai cụ cho bà Y 70m² đất và số tiền các cụ góp vào xây nhà 150.000.000 đồng; Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở của cụ N3 lập ngày 09/6/2011 với nội dung cho bà Y 33,35m² đất. Hai bản di chúc này bà C và các chị em không đồng ý, bố mẹ bà có 09 người con, bố mẹ làm thừa kế tặng cho diện tích đất cho bà Y phải có sự đồng ý của các con mới là hợp pháp. Khi lập bản di chúc cụ N3 đã già yếu không thể đến UBND xã ký vào bản di chúc trước cán bộ xã được. Quá trình chung sống với bố mẹ bà Y không chăm sóc, cư xử không tốt với bố mẹ nên bố mẹ không cho tài sản riêng một mình bà Y được.
Vì vậy, bà C không công nhận các văn bản nêu trên là hợp pháp. Hiện nay bà Y khóa cửa nhà không cho các chị em vào thắp hương ngày giỗ bố, mẹ nên bà yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế là thửa đất ở của cụ H2, cụ N3 theo pháp luật cho các chị em gồm: Bà H, bà L1, bà N, bà V, bà H1, bà T sử dụng, bà và các chị em sẽ thanh toán trị giá kỷ phần tài sản bà Y được hưởng và các công trình xây dựng trên đất cho bà Y, ông L; đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG762145 do UBND huyện K cấp ngày 18/7/2011 mang tên bà Y. Các đồ dùng sinh hoạt gồm bàn ghế xa lông, ti vi, giường inox, tủ gỗ của hai cụ do ngày định giá tài sản bà Y khóa cửa không cho Hội đồng vào nhà làm việc nên không định giá được nên bà không yêu cầu chia thừa kế những tài sản này.
Bị đơn là bà Đỗ Thị Y (do ông Phạm Đức L đại diện theo ủy quyền đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày:
Bị đơn thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết tộc trong gia đình của cụ N3, cụ H2. Năm 1990 ông L kết hôn với bà Y thì vợ chồng ở với bố mẹ (ông L ở rể) trên thửa đất tranh chấp đến khi hai cụ chết. Tài sản của hai cụ có 182m² đất ở, trên đất có xây 01 căn nhà cấp 4 và 01 gian quán bán hàng. Vợ chồng ông bà chủ yếu ở gian quán bán hàng còn hai cụ ở trên căn nhà cấp bốn, các chị em đã lập gia đình và ra ở riêng, không ai ở cùng bố mẹ.
Khoảng năm 2008-2009, Nhà nước làm đường 39b có thu hồi của hai cụ một phần diện tích đất, các cụ đã được nhận tiền đền bù. Sau đó hai cụ chuyển nhượng cho ông Đ một phần đất. Tổng diện tích đất các cụ bị thu hồi và chuyển nhượng cho ông Đ là 115,3m², vì vậy hai cụ chỉ còn 66,7m² đất ở. Số tiền chuyển nhượng đất và bồi thường đất hai cụ đã chia cho 08 người con nhưng không chia tiền cho bà Y với lý do các cụ đã cho bà Y diện tích 66,7m² đất này. Do làm đường 39b gian hàng vợ chồng ông bà ở mưa gió, dột nát nên hai cụ giục vợ chồng ông bà làm nhà. Đầu năm 2009, vợ chồng ông bà xây 01 nhà mái bằng 03 tầng, công trình phụ khép kín, diện tích mặt sàn 66,7m². Khi vợ chồng ông bà xây nhà, các chị em không ai phản đối, hai cụ đóng góp hỗ trợ cho vợ chồng ông bà 150.000.000 đồng.
Ngày 08/4/2009, hai cụ viết “Di chúc thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở và tài sản trên đất” với nội dung cho bà Y được quyền sử dụng 70m² đất thổ cư có tứ cận: Phía Nam giáp đất nhà bà C1 dài 17,5m; Phía Bắc dài 18m; Phía Đông dài 3,65m; Phía Tây dài 5,1m mặt đường 39b khu vực thôn C xã V và cho số tiền 150.000.000 đồng hai cụ góp cho vợ chồng ông bà để làm nhà trên thửa đất thuộc quyền sử dụng của bà Y. Di chúc đã được UBND xã V chứng thực và ký xác nhận.
Sau khi cụ H2 chết, ngày 09/6/2011, cụ N3 viết “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” cho bà Y toàn bộ số tài sản riêng của cụ N3 trong khối tài sản chung vợ chồng (theo bản Di chúc lập ngày 08/4/2009) là quyền sử dụng 33,35/66,7m² đất làm nhà ở Giấy tặng cho ngày 09/6/2011 có kèm theo 04 điều kiện nhưng đến năm 2013 chị em mâu thuẫn nên cụ N3 đã viết lại Giấy tặng cho tài sản và hủy bỏ 04 điều kiện trong giấy tặng cho tài sản ngày 09/6/2011. Văn bản ngày 16/02/2013 cũng được UBND xã V ký xác nhận, có đại diện các con trong gia đình là bà Đỗ Thị H (chị bà Y), bà Đỗ Thị V (em bà Y), người làm chứng là bà Nguyễn Thị L2 (trưởng thôn) ký.
Khoảng năm 2011, UBND xã thông báo về việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông bà có làm các thủ tục như hướng dẫn nhưng đến năm 2014 gia đình ông bà vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do đất đang có tranh chấp. Sau khi hai cụ lập di chúc cho bà Y thửa đất thì chị em đã nhen nhóm mâu thuẫn. Cụ N3 chết, mâu thuẫn chị em căng thẳng hơn, các chị em yêu cầu vợ chồng ông bà bán nhà để chia tiền cho mọi người, còn đưa bát hương của cụ H2, cụ N3 về thờ cúng trong từ đường nhưng vợ chồng ông bà không đồng ý, vì chị em đã được các cụ chia tiền bán đất và tiền bồi thường đất, diện tích đất còn lại là của bà Y. Khoảng năm 2018, các chị em gửi đơn ra UBND xã giải quyết tranh chấp và có hòa giải nhưng không thành. Năm 2019, mọi người có những cư xử không đúng mực với vợ chồng ông bà nên vợ chồng ông bà không đồng ý cho tổ chức cúng giỗ tại gia đình. Quan điểm của ông bà đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
- - Yêu cầu chia thừa kế của cụ H2, cụ N3 theo pháp luật chỉ trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Tuy nhiên, trong trường
hợp này, khi còn sống hai cụ đã lập di chúc cho bà Y diện tích đất 70m² (nay đo đạc thực tế là 66,7m²) và số tiền 150.000.000 đồng hai cụ góp làm nhà. Di chúc của hai cụ lập là hợp pháp, các nội dung cụ N3 thay đổi đều có đại diện cơ sở thôn ký xác nhận và có chứng thực của chính quyền địa phương nên ông bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn.
- - UBND huyện K đã căn cứ bản di chúc hợp pháp của cụ H2, cụ N3 để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 194, tờ bản đồ số 9, diện tích 66,7m² ở thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình cho bà Đỗ Thị Y là đúng trình tự quy định của pháp luật. Vì vậy, ông bà không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện K (do người đại diện) trình bày:
Việc UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00743 ngày 18/7/2011 cho bà Đỗ Thị Y được thực hiện cấp đại trà theo dự án đo đạc Vlap tại xã V năm 2011. Quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về bản di chúc để làm cơ sở cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đỗ Thị Y được chủ tài sản là cụ Đỗ Văn H3, cụ Bùi Thị N3 lập ngày 08/4/2009 và bản Di chúc được UBND xã V chứng thực ngày 08/4/2009. Ngày 05/11/2009 cụ Đỗ Văn H3 chết. Ngày 09/6/2011, cụ Bùi Thị N3 lập thủ tục tặng cho bà Đỗ Thị Y phần tài sản theo nội dung di chúc nêu trên bằng “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” và được UBND xã V chứng thực ngày 09/6/2011.
Ngày 15/10/2010, bà Đỗ Thị Y lập hồ sơ kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND xã V xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào “Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Ngày 18/7/2011, UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận số CH00743 đứng tên bà Đỗ Thị Y. Như vậy, UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đỗ Thị Y là đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Bà Đỗ Thị H, bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị T, ông Trần Xuân N1 (chồng bà N) trình bày: Các bà và ông N1 đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị chia thừa kế di sản của cụ H3, cụ N3 theo đơn khởi kiện của bà Đỗ Thị C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Chu T1 và anh Chu A N2 không tham gia tố tụng và không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 02/12/2021 thể hiện: Nhà mái bằng 03 tầng xây dựng năm 2009 trên diện tích đất 66,7m², nhà xây vật liệu cứng gạch chỉ đỏ kết cầu khung chịu lực, tường 220 móng cọc bê tông cốt thép có tứ cận: Phía Đông giáp hộ ông Trần Văn T2; Phía Tây giáp hộ ông Nguyễn Đức T3; Phía Nam giáp đường giao thông; Phía Bắc giáp ao ông
Nguyễn Văn V1. Giá đất mặt đường 458 thuộc thôn C, xã V, huyện K là 20.800.000 đồng/m2. Giá trị quyền sử dụng thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 là 66,7m² x 20.800.000 đồng/m² = 1.387.360.000 đồng. Giá trị ngôi nhà mái bằng 03 tầng và cửa sau khi trừ khấu hao 48% trị giá còn lại là 425.419.800 đồng. Tài sản tivi, tủ gỗ, giường inox, bộ bàn ghế salon, giường gỗ, nguyên đơn không yêu cầu nên không định giá.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2022, Toà án nhân dân thành tỉnh Thái Bình quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Đình H2 (Đỗ Văn H3) cho bà Đỗ Thị L1 là 50.000.000 đồng.
- Buộc bà Đỗ Thị Y thanh toán cho bà Đỗ Thị L1 50.000.000 đồng.
- Tạm giao cho bà Đỗ Thị H quản lý số tiền 50.000.000 đồng cho bà Đỗ Thị L1.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Đình H2 (Đỗ Văn H3) và cụ Bùi Thị N3 theo pháp luật cho bà Đỗ Thị C, bà Đỗ Thị H, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị Y, bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị T, anh Chu T1, anh Chu Anh N2 (con bà Đỗ Thị D1) và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00743 Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 18/7/2011 cho bà Đỗ Thị Y.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, lệ phía Tòa án và thông báo quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/6/2022, nguyên đơn là bà Đỗ Thị C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Người đại diện của bị đơn là ông Phạm Đức L đồng ý để cho bà L1 được hưởng 39.000.000 đồng (phần giá trị tài sản còn lại của cụ N3 trong việc góp tiền xây nhà).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn. Do ông Phạm Đức L tự nguyện để cho bà L1 được hưởng số tiền 39.000.000 đồng của cụ N3 nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện ủy quyền của bị đơn để bà L1 được hưởng 39.000.000 đồng (phần giá trị tài sản còn lại của cụ N3 trong việc góp tiền xây nhà).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thủ tục kháng cáo: Kháng cáo của bà Đỗ Thị C đảm bảo đúng thời hạn và thuộc trường hợp miễn án phí do là người cao tuổi có đơn xin miễn tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, kháng cáo của bà C được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là bà Đỗ Thị Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị L1, anh Chu T1, Chu Anh N2, Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bính vắng mặt nhưng ông L là đại diện theo ủy quyền của bà Y và bà H là người đại diện theo pháp luật của bà L1 có mặt. Xét đây là phiên tòa phúc thẩm mở lần thứ 03, các đương sự vắng mặt không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ. Nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đều đề nghị xét xử. Hội đồng xét xử phúc thẩm thảo luận và quyết định tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[1.3] Về thời hiệu giải quyết vụ án: Năm 2009, cụ Đỗ Đình H2 (tên gọi khác là Đỗ Văn H3) chết. Năm 2017, cụ Bùi Thị N3 chết. Ngày 10/11/2020, bà Đỗ Thị C nộp đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết chia di sản thừa kế của cụ H3, cụ N3, căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, đơn khởi kiện của bà C nộp trong thời hiệu quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà C:
[2.1] Về tài sản chung của cụ H3, cụ N3: Theo bản đồ đo đạc 299 năm 1980 là thửa số 225, tờ bản đồ số 2, diện tích 210m², loại đất thổ đứng tên cụ H3. Đo đạc năm 1992 là thửa số 1383, tờ bản đồ số 4, diện tích 188m² đứng tên cụ H3, loại đất thổ. Sau khi đất của gia đình cụ H3 bị thu hồi và chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông Đ thì theo kết qủa đo đạc năm 2010 là thửa số 194, tờ bản đồ số 9, diện tích 66,7m² đất thổ cư, hiện trạng do bà Đỗ Thị Y đang sử dụng. Như vậy, nguồn gốc thửa số 194, tờ bản đồ số 9, diện tích 66,7m² đất thổ cư là của cụ Đỗ Văn H3 (Đỗ Đình H2) và cụ Bùi Thị N3.
[2.2] Quá trình sử dụng nhà đất:
Theo lời khai của các đương sự: Khi hai cụ còn sống, bà Y và ông L ở cùng hai cụ trên thửa đất nêu trên. Đầu năm 2009, hai cụ nhất trí cho ông L, bà Y xây dựng ngôi nhà 3 tầng trên đất đồng thời đóng góp tiền xây nhà cùng ông L, bà Y là 150.000.000 đồng.
Bà C có xuất trình bản “Di chúc” đề ngày mùng 4 tết năm Mậu Tý 2008 do bà Đỗ Thị H viết nhưng không có chữ ký, điểm chỉ của cụ H2 thể hiện bà Y
được ở nhà đất trên. Sau khi bố mẹ chết thì ngôi nhà sẽ làm từ đường cúng giỗ, chị em về xum họp, bà Y có có trách nhiệm trông nom nhà đất của bố mẹ để lại.
Ông L nộp bản “Di chúc thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở và tài sản trên đất” ngày 08/4/2009 do cụ H2, cụ N3 lập có nội dung: “Sau khi vợ chồng chúng tôi qua đời phần tài sản chung của vợ chồng chúng tôi gồm: Quyền sử dụng 70m² đất thổ cư (Đất có cạnh kích thước: Phía Nam giáp đất của gia đình bà C1 dài 17,5m; phía Bắc dài 18m; phía Đông dài 3,65m; phía Tây dài 5,1m - Đất mặt đường 39b - Khu vực thôn C xã V) và số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn) mà vợ chồng chúng tôi góp cho cháu Y để làm nhà ở trên diện tích đất này sẽ thuộc quyền quản lý và sử dụng của cháu Y song cháu Y có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng chị gái cháu là Đỗ Thị L1 cũng như thực hiện việc thờ cúng vợ chồng chúng tôi sau khi vợ chồng chúng tôi qua đời...”.
Theo ông L trình bày: Sau khi cụ H2 chết, ngày 09/6/2011, cụ N3 viết “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” tặng cho bà Y “...toàn bộ số tài sản riêng trong khối tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng 33,35/66,7m² đất làm nhà ở” và phải thực hiện 04 điều kiện sau: Bà Y có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng cụ N3 cho tới khi cụ N3 qua đời; Có trách nhiệm thực hiện việc thờ cúng tổ tiên, ông, bà, cha mẹ; Có trách nhiệm thu xếp về chỗ ở và tiến hành chăm sóc phụng dưỡng bà L1 cho tới khi bà L1 qua đời; Phải tạo mọi điều kiện cho chị em, con cháu trong gia đình đến thăm mẹ cũng như trong những ngày cúng giỗ, lễ tết. Ngày 16/02/2013, cụ N3 tiếp tục lập văn bản “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” với nội dung giữ nguyên việc tặng cho bà Y quyền sử dụng đất ở nhưng hủy bỏ 04 điều kiện ghi trong văn bản ngày 09/6/2011.
[2.3] Xét tính hợp pháp của các văn bản trên:
[2.3.1] Bản “Di chúc” đề ngày mùng 4 tết năm Mậu Tý 2008 không có chữ ký của cụ N3. Năm 2009 cụ H2, cụ N3 lập bản di chúc khác, sau khi cụ H2 chết, cụ N3 lập văn bản tặng cho tài sản của cụ N3 cho bà Y nên B “Di chúc” đề ngày mùng 4 tết năm Mậu Tý 2008 không có hiệu lực.
[2.3.2] Bản Di chúc của cụ H2, cụ N3 lập ngày 08/4/2009 được UBND xã V chứng thực thể hiện “……ông Đỗ Văn H3 và bà Bùi Thị N3 là vợ chồng hợp pháp. Ông H3 và bà N3 đã tự nguyện lập Di chúc này. Tại thời điểm chứng thực ông H3 và bà N3 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật. Nội dung của Di chúc phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Ông H3 và bà N3 đã đọc lại Bản Di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong Di chúc và đã ký vào Di chúc trước sự có mặt của tôi...”.
[2.3.3] Theo xác minh tại UBND xã V ngày 18/7/2023 và ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình (thực hiện theo Quyết định ủy thác số 7710/QĐ-UT ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội) có nội dung:
Tháng 4/2009, bà Đỗ Thị H và bà Đỗ Thị H1 đến UBND xã V đề nghị tạo điều kiện hỗ trợ giúp cụ H3, cụ N3 lập di chúc cho bà Y nhà đất. Ngày 08/4/2009, cụ H3, cụ N3 đến trụ sở UBND xã V để lập Di chúc. Do hai cụ già yếu, viết văn bản khó khăn nên đã nhờ ông Nguyễn Văn L3 (tức T4) nguyên cán bộ tư pháp (nay là Chủ tịch UBND xã V) soạn thảo đánh máy văn bản Di chúc. Thời điểm lập Di chúc cụ H3, cụ N3 minh mẫn, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, toàn bộ Di chúc đều thể hiện ý chí, nguyện vọng của hai cụ. Sau khi soạn thảo Di chúc hai cụ đã nghe, đọc lại và nhất trí, cụ N3 còn viết được nên đã ký và ghi rõ họ tên, cụ H3 bị bệnh packinson, tay bị run nên không ký tên được, cụ H3 đã điểm chỉ ngón trỏ bàn tay phải.
Đối với “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” ngày 09/6/2011 và ngày 16/02/2013: Tại thời điểm này cụ N3 đã già, sức khỏe yếu nên đề nghị UBND xã đến trực tiếp gia đình lập văn bản (ông Nguyễn Văn L3 (tức T4)) nguyên cán bộ tư pháp (nay là Chủ tịch UBND xã V) đánh máy. Việc tặng cho có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị L2 (Trưởng thôn 3), bà Nguyễn Thị T5 (Bí thư Chi bộ thôn C).
Theo trình bày của bà Nguyễn Thị L2 và bà Nguyễn Thị T5: Bà L2, bà T5 có chứng kiến việc cụ N3 lập văn bản tặng cho bà Y tài sản trong tình trạng minh mẫn sáng suốt, cụ N3 nói cho bà Y vì bà Y chăm sóc cụ N3, những người con khác đã có chỗ ở khác và không về đây nữa.
[2.3.4] Tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận chữ ký và dấu vân tay tại Di chúc ngày 08/4/2009 là của cụ N3, cụ H3, vân tay tại 02 Văn bản tặng cho nêu trên là của cụ N3 và không đề nghị giám định chữ ký và dấu vân tay tại Di chúc và Văn bản tặng cho.
[2.3.5] Căn cứ Điều 631, Điều 632, Điều 634, Điều 646, khoản 1 Điều 647, Điều 648, Điều 649, khoản 3 Điều 650, Điều 652, Điều 653, Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005 xét thấy Di chúc ngày 08/4/2009 thể hiện ý chí của cụ H3, cụ N3 định đoạt tài sản của hai cụ gồm diện tích đất ở và số tiền 150.000.000 đồng đã góp để làm nhà cho bà Đỗ Thị Y sau khi chết. Di chúc được các cụ lập khi hoàn toàn minh mẫn, không bị lừa dối, đe dọa, ép buộc, nội dung và hình thức di chúc không trái pháp luật và được UBND xã V chứng thực nên hợp pháp.
[2.3.6] Sau khi cụ H3 chết, phần Di chúc của cụ H3 có hiệu lực. Đối với “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” cụ N3 lập ngày 09/6/2011 và ngày 16/02/2013 đều có người làm chứng, đồng thời được UBND xã V chứng thực phù hợp với quy định tại Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Như vậy, khi còn sống các cụ đã lập di chúc và lập văn bản định đoạt tài sản là quyền sử dụng 70m² đất ở (đo đạc thực tế 66,7m²) ở thôn C, xã V cho bà Y. Việc hai cụ định đoạt tài sản cho bà Y pháp luật không quy định phải có sự đồng ý của các con nên Di chúc và văn bản tặng cho tài sản của cụ H3, cụ N3
được lập đều hợp pháp nên những phần tài sản đã được cụ N3, cụ H3 định đoạt cho bà Y không còn là di sản để lại để chia theo pháp luật.
[2.3.7] Tuy nhiên, bà Đỗ Thị L1 là người bị mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2020/QÐST-VDS ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Đỗ Thị L1 là “con thành niên mà không có khả năng lao động” theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì bà L1 vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật không phụ thuộc vào di chúc của cụ H3, cụ N3 là đúng. Sau khi cụ H3 chết, bà L1 được hưởng bằng 2/3 một suất thừa kế di sản của cụ H3. Cụ thể: Trị giá 66,7m² đất định giá là 1.387.360.000 đồng : 2 = 693.680.000 đồng. Quá trình định giá tài sản, xác định ngôi nhà của ông L, bà Y khấu hao sử dụng 48%, giá trị ngôi nhà còn lại là 52%. Vì vậy, số tiền hai cụ góp vào xây nhà với bà Y, ông L 150.000.000 đồng x 52% = 78.000.000 đồng : 2 = 39.000.000 đồng.
Tài sản của cụ H3 là 693.680.000 đồng + 39.000.000 đồng = 732.680.000 đồng: 10 người (gồm cụ N3 và 09 người con) = 73.268.000 đồng/suất x 2/3/suất = 48.845.333 đồng (trong đó trị giá tiền đất là 46.245.333 đồng, trị giá tiền cụ H3 góp xây nhà 2.600.000 đồng). Do hiện nay bà L1 đang sống tại Trung tâm B1, có khó khăn nên buộc bà Y thanh toán trị giá 2/3 một suất thừa kế cho bà L1 làm tròn là 50.000.000 đồng là phù hợp.
[2.3.8] Bản Di chúc ngày 08/4/2009 cụ H3, cụ N3 định đoạt cho bà Y khoản tiền mà cụ H3 và cụ N3 xây nhà nhưng tại “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” cụ N3 lập ngày 09/6/2011 và ngày 16/02/2013 chỉ thể hiện cho bà Y quyền sử dụng đất làm nhà ở mà không nhắc đến việc cho số tiền cụ N3 đã góp vào xây nhà. Sau khi lập Di chúc chung với cụ H3 ngày 08/4/2009 thì cụ N3 không lập Di chúc nào khác nên phần này vẫn có hiệu lực đối với việc định đoạt cho bà Y nhưng vẫn phải đảm bảo quyền lợi cho bà L1 là con thành niên không có khả năng lao động. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông L là người đại diện ủy quyền của bà Y đồng ý để lại toàn bộ phần di sản còn lại của cụ Bùi Thị N3 đã góp xây nhà là 39.000.000 đồng cho bà L1. Sự tự nguyện của bị đơn phù hợp với Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và sửa bản án sơ thẩm về phần này.
Như vậy, bà L1 được hưởng di sản thừa kế là 50.000.000 đồng + 39.000.000 đồng = 89.000.000 đồng. Hiện nay bà H là người đại diện hợp pháp cho bà L1 theo Quyết định số 01/2020/QÐST-VDS ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình nên tạm giao số tiền trên cho bà H quản lý giúp bà L1.
[2.4] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện K cấp cho bà Đỗ Thị Y: Sau khi cụ H3 chết, căn cứ bản “Di chúc thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở và tài sản trên đất” cụ H3, cụ N3 lập ngày
08/4/2009 và “Giấy tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất làm nhà ở” cụ N3 lập ngày 09/6/2011, bà Y lập hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND xã Vũ Quý xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hơn nữa, các văn bản nêu trên được đánh giá là hợp pháp và bà Y được tiếp tục sử dụng nhà đất nên nguyên đơn đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện K cấp cho bà Đỗ Thị Y là không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí: Do bà Đỗ Thị C là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà C.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị C.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình như sau:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Đình H2 (Đỗ Văn H3) cho bà Đỗ Thị L1 là 50.000.000 đồng.
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị Y thanh toán cho bà Đỗ Thị L1 39.000.000 đồng (phần di sản còn lại của cụ Bùi Thị N3 đã góp xây nhà). Tổng số tiền bà Đỗ Thị Y phải thanh toán cho bà L1 phần di sản được hưởng của Đỗ Đình H2 và cụ Bùi Thị N3 là 89.000.000 đồng. Tạm giao cho bà Đỗ Thị H quản lý số tiền 89.000.000 đồng cho bà Đỗ Thị L1.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Đình H2 (Đỗ Văn H3) và cụ Bùi Thị N3 theo pháp luật cho bà Đỗ Thị C, bà Đỗ Thị H, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị Y, bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị T, anh Chu T1, anh Chu Anh N2 (con bà Đỗ Thị D1) và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00743 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 18/7/2011 cho bà Đỗ Thị Y.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Đỗ Thị C không phải nộp.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với số tiền trên, người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Thị Thơm |
Bản án số 533/2023/DS-PT ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 533/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia di sản thừa kế theo di chúc, bà L1 được hưởng di sản bằng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật
