|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 533/2024/DS-PT Ngày 09 – 9 – 2024 V/v “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng;
Ông Trần Phước Hội;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2024/TLPT-DS ngày 31/7/2024, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 533/2024/QĐ-PT ngày 08/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số A, T, Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Thanh H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số F, đường C tháng 4, khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn:
1. Bà Phan Thị L, sinh năm 1973;
2. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng tạm trú: Số G, đường N, khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L, ông H1: Luật sư Nguyễn Xuân N – Công ty L1 anh em Luật sư chi nhánh Đ.
Địa chỉ: Số C, L, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo của bà Phan Thị L, ông Lê Văn H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn Ông Nguyễn Thanh P và Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Hồ Thanh H trình bày:
Ngày 22/04/2023, ông P cho bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 vay số tiền 2.300.000.000 đồng để kinh doanh, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 22/04/2023 đến hết ngày 22/10/2023, hai bên thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng. Khoản vay ngày 22/04/2023, bà L và ông H1 có đóng lãi nhưng không đầy đủ.
Ngày 22/11/2023, ông P cho bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 vay thêm số tiền 540.000.000 đồng để kinh doanh, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 22/11/2023 đến hết ngày 22/05/2024, hai bên thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng. Khoản ngày 22/11/2023, bà L và ông H1 không đóng tiền lãi cho ông P nên ông P mới khởi kiện.
Nay ông P yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông P số tiền vay còn nợ gốc là 2.840.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Theo biên bản hoà giải thành ngày 14/5/2024 thì ông P rút lại một phần yêu cầu chỉ yêu cầu bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 liên đới trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay còn nợ gốc là 2.700.000.000 đồng. Nhưng vào ngày 20/5/2024 bà L và ông H1 thay đổi ý kiến không thống nhất nội dung hoà giải thành nên ông P vẫn giữ y theo yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Tại phiên tòa, anh Hồ Thanh H xác định: Anh H thừa nhận số tiền 540.000.000 đồng theo biên nhận ngày 22/11/2023 đúng là số tiền lãi tính trên số nợ gốc 2.300.000.000 đồng của biên nhận ngày 22/4/2023. Do vợ chồng bà L, ông H1 không đóng lãi theo thoả thuận nên giữa ông P, bà L, ông H1 chốt lại tổng số tiền mà bà L, ông H1 còn nợ lại ông P là 2.840.000.000 đồng theo hai biên nhận mà ông P đã cung cấp cho Toà án. Ông P đồng ý rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là chỉ yêu cầu bà L và ông H1 liên đới trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay còn nợ gốc là 2.700.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, theo biên bản hoà giải thành ngày 14/5/2024; Đồng thời ông P đồng ý khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng theo biên nhận ngày 03/01/2024 vì biên nhận này bà L có trả lãi cho ông P sau thời điểm làm biên nhận nợ ngày 22/11/2023, có ông Nguyễn Thanh H2 ký nhận. Đối với biên nhận ngày 06/3/2024, số tiền 40.000.000 đồng thì ông P không thừa nhận vì không có chữ ký của người nhận tiền. Số tiền mà ông P yêu cầu 2.690.000.000 đồng là phù hợp, vì nếu ông P yêu cầu tính lãi theo quy định đối với số nợ gốc 2.300.000.000 đồng thì số tiền sẽ vượt quá
2.690.000.000 đồng. Việc ông H1 yêu cầu ngừng phiên toà để làm thủ tục phản tố đối với số tiền 944.000.000 đồng là không có căn cứ vì trong quá trình giải quyết vụ án bà L và ông H1 xác định là không yêu cầu, không tranh chấp gì đối với số tiền 944.000.000 đồng trong vụ án này. Do đó, đề nghị áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự. Buộc bà L và ông H1 liên đới trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay còn nợ là 2.690.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn bà Phan Thị L trình bày:
Nguyên vào năm 2021-2022 bà L có mượn tiền của ông Nguyễn Thanh P nhiều lần tổng cộng là 2.300.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Bà đã đóng lãi đầy đủ đến ngày 06/3/2024, khi bà đóng lãi thì phía bên ông P có làm biên nhận cho bà, nhưng có lúc thì đưa biên nhận, có lúc không đưa biên nhận (kèm theo biên nhận bà đã trả tiền lãi được 944.000.000 đồng). Từ tháng 4/2024 cho đến nay bà không có đóng lãi nữa. Do làm ăn thua lỗ và bị người khác giật nợ. Nên hiện tại bà không có khả năng trả vốn một lần cho ông P được. Bà thống nhất giao tài sản cho ông P để trừ nợ nhưng ông P không đồng ý.
Nay ông P yêu cầu bà trả cho ông P số tiền 2.840.000.000 đồng thì bà chỉ thống nhất trả cho anh P số tiền 2.300.000.000 đồng còn lại số tiền 540.000.000 đồng bà không thống nhất vì bà đã đóng lãi đầy đủ đến tháng 3/2024. Biên nhận ngày 22/11/2023 với số tiền là 540.000.000 đồng thì bà không đồng ý là tiền mượn vốn để làm ăn mà là tiền lãi mà ông P đã kê cho bà thành tiền vốn. Khi ký biên nhận nợ ngày 22/11/2023 với số tiền là 540.000.000 đồng thì có Nguyễn Thanh H2 là nhân viên của ông P chứng kiến việc này. Biên nhận nhận tiền ngày 22/4/2023 là chữ ký của bà và chồng bà ông Lê Văn H1. Biên nhận ngày 22/11/2023 là chữ ký của bà. Trong hai bên nhận bà đều ghi là “Tôi đã đọc và đồng ý”. Bà chấp nhận ký chứ không có ai đe dọa hay ép buộc bà ký tên trong hai biên nhận này.
Theo biên biên bản hoà giải thành ngày 14/5/2024 thì bà và ông Lê Văn H1 tự nguyện thống nhất liên đới trả số tiền gốc cho ông P là 2.700.000.000 đồng. Nhưng do ông P không đồng ý gặp vợ chồng bà để trao đổi việc lấy tài sản của vợ chồng bà trừ nợ cho ông P nên vợ chồng bà thay đổi ý kiến theo biên bản hoà giải thành ngày 14/5/2024. Nay bà thừa nhận và đồng ý trả cho ông P số tiền vay còn thiếu là 2.300.000.000 đồng chứ không đồng ý còn thiếu số tiền 540.000.000 đồng theo biên nhận ngày 22/11/2023 như ông P yêu cầu.
Riêng đối với số tiền đối với số tiền 944.000.000 đồng thì bà không yêu cầu phản tố trong vụ án này vì bà không có khả năng nộp tiền tạm ứng án phí. Nhưng đề nghị Toà án xem xét lại phần lãi vì bà đã đóng lãi quá nhiều cho ông P.
- Bị đơn ông Lê Văn H1 trình bày:
Ông có ý kiến trình bày như vợ ông là bà Phan Thị L. Nay ông H1 thừa nhận và đồng ý trả cho ông P số tiền vay còn thiếu là 2.300.000.000 đồng chứ không đồng ý còn thiếu số tiền 540.000.000 đồng theo biên nhận ngày 22/11/2023 như ông P yêu cầu.
Tại phiên toà, ông H1 xác định: Giữa ông và bà L từ trước đến nay vẫn chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng vẫn bình thường. Ông không biết việc vợ ông (bà L) vay tiền của ông P và không biết số tiền lãi hàng tháng bà L đóng lãi cho ông P như thế nào, nhưng ông biết việc vay tiền là từ năm 2021 và hàng tháng bà L đều có đóng tiền lãi cho ông P. Ông không có chứng cứ chứng minh số tiền 540.000.000 đồng theo biên nhận ngày 22/11/2023 là tiền lãi và không có chứng cứ chứng minh vợ chồng ông vay tiền của ông P vào năm 2021. Ông H1 thừa nhận vợ chồng ông có ký biên bản hoà giải thành để chốt số tiền còn nợ lại ông P là 2.700.000.000 đồng, nhưng do ông P không đồng ý gặp ông để trao đổi cách dùng tài sản của ông để xử lý nợ nên vợ chồng ông mới thay đổi ý kiến; Đồng thời ông H1 thừa nhận là trước khi đưa vụ án ra xét xử ông đã được Tòa án giải thích, hướng dẫn vợ chồng ông thực hiện thủ tục phản tố đối với số tiền 944.000.000 đồng, nhưng do vợ chồng ông không yêu cầu, không tranh chấp số tiền 944.000.000 đồng trong vụ án này, nội dung này có ghi nhận trong biên bản lấy lời khai của ông vào ngày 23/5/2024. Nhưng tại phiên toà sơ thẩm ông yêu cầu Toà án ngừng phiên toà để vợ chồng ông thực hiện thủ tục yêu cầu đối với số tiền 944.000.000 đồng trong vụ án này và mời Luật sư để bảo vệ quyền lợi cho ông.
Bản án dân sự sơ thẩm 22/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của
Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự quyết định:
Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 166, Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 259, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh P.
Buộc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ông Nguyễn Thanh P với tổng số tiền 2.690.000.000 đồng, không tính lãi.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
Buộc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu 85.800.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Thanh P được nhận lại 44.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 05106, ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông H1 và bà L kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét về việc ông Nguyễn Thanh P buộc ông bà trả số tiền 540.000.000 đồng và gộp vào nợ gốc là không có cơ sở. Mặc khác, nếu tính lãi theo tỷ lệ 3%/tháng thì không đúng lãi suất cơ bản mà pháp luật quy định.
Đồng thời không chấp nhận yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để ông H1 và bà L yêu cầu phản tố để cấn trừ số tiền lãi mà ông bà đã đóng cho ông P 944.000.000 đồng (lãi 3%/tháng). Nên ông H1 và bà L yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật để cấn trừ số tiền lãi 944.000.000 đồng vào số tiền nợ gốc 2.300.000.000 đồng mà ông bà đã nợ ông P.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh H, bà L, ông H1, Luật sư N có mặt. Các đương sự có mặt và khẳng định đã xuất trình thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.
Luật sư N trình bày: Căn cứ biên nhận nợ ngày 22/4/2023 và căn cứ vào danh sách liệt kê 69 biên nhận thì thời điểm vay nợ để cộng lại số tiền 2.300.000.000 đồng là vay từ năm 2021-2022 đến năm 2023 mới chốt lại biên nhận. Do đó ký nhận hợp đồng ngày 22/4/2023 chỉ có ký tên chứ không có thực tế nhận tiền 2.300.000.000 đồng vào ngày này.
Anh H là người đại diện của nguyên đơn cũng thừa nhận là còn có hợp đồng vay khác. Số tiền 2.300.000.000 đồng mà bị đơn đã chấp nhận về tiền lãi đã có tính lại do đó chỉ đề nghị xem lại số tiền 944.000.000 đồng theo biên nhận của bên ông P đưa lại cho bị đơn ông H1, bà L giữ. Lời khai của người làm chứng anh H2 nói nhận chỉ có 17 lần nhưng thực tế anh H2 nhận số tiền hơn 40 lần.
Biên nhận số tiền 540.000.000 đồng ngày 22/11/2023 được xác nhận lại là tiền lãi của số tiền 2.300.000.000 đồng. Do đó đối với số tiền 2.300.000.000 đồng thì 02 bị đơn thừa nhận có thể được xác định là số tiền vốn và lãi vay của nhiều lần cộng lại theo 69 biên nhận nên đề nghị áp dụng Điều 468 Bộ luật dân sự để giảm lãi cho bị đơn.
Bà L, ông H1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của Luật sư N, không trình bày gì thêm.
Anh H trình bày: Đối với 69 biên nhận đã hoàn thành nghĩa vụ nên không liên quan đến số tiền 2.300.000.000 đồng và không có căn cứ chứng minh là tiền lãi số tiền 2.300.000.000 đồng. Ông P yêu cầu trả số tiền vốn là 2.300.000.000 đồng và tiền lãi là 390.000.000 đồng, tổng vốn và lãi là 2.690.000.000 đồng là phù hợp với quy định pháp luật đã có chiều chỉnh tiền lãi. Vì Tòa án có điều chỉnh lãi suất xuống còn 1,66%/tháng thì số tiền lãi vẫn vượt quá 400.000.000 đồng như viện dẫn nêu trên (Cụ thể, tiền lãi tạm tính 2.300.000.000 đồng x 14 tháng x 1,66%/tháng = 534.520.000 đồng); Tòa án cấp sơ thẩm đã hướng đến
việc giảm bớt thiệt hại và có lợi nhất cho bị đơn, nếu ông P yêu cầu tính lãi suất cho đến khi bà L và ông H1 trả hết nợ, thì lúc này Tòa án cấp phúc thẩm mở phiên tòa xét xử buộc phải tính lãi suất 1,66%/tháng tiếp tục cho ông P nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp các đương sự thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án xét yêu cầu kháng cáo của bà L, ông H1 là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà L, ông H1; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thành phần những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng thì các đương sự thống nhất không có ai có yêu cầu bổ sung hay khiếu nại.
[2] Về nội dung tranh chấp qua thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định như sau:
- Về tố tụng thu thập chứng cứ: Xét việc ông Lê Văn H1 yêu cầu ngừng phiên toà để làm thủ tục phản tố đối với số tiền 944.000.000 đồng và mời Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H1 là không có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 259 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì trong quá trình giải quyết vụ án trước khi đưa vụ án ra xét xử bà L và ông H1 xác định là không yêu cầu, không tranh chấp gì đối với số tiền 944.000.000 đồng trong vụ án này. Ông H1 cũng thừa nhận đã được Tòa án giải thích, hướng dẫn vợ chồng ông thực hiện thủ tục yêu cầu đối với số tiền 944.000.000 đồng nhưng vợ chồng ông không yêu cầu, không tranh chấp nên không làm thủ tục.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P yêu cầu bà Phan Thị L và chồng là ông Lê Văn H1 cùng có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền vay 2.690.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi thêm. Xét thấy:
Việc bà Phan Thị L, ông Lê Văn H1 vay tiền của ông Nguyễn Thanh P có làm biên nhận nợ vào ngày 22/04/2023 và ngày 22/11/2023. Trong biên nhận nợ ngày 22/04/2023, số tiền 2.300.000.000 đồng thì có chữ ký tên và chữ ghi họ tên của bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1, còn biên nhận ngày 22/11/2023, số tiền 540.000.000đồng thì chỉ có chữ ký tên của bà Phan Thị L chứ không có ông Lê Văn H1 ký và cả hai biên nhận đều có nội dung do bà L ghi “Tôi đã đọc và đồng ý”. Bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 thừa nhận có nợ và tự nguyện liên đới trả cho ông Nguyễn Thanh P số tiền vay gốc là 2.300.000.000 đồng. Do đó, việc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 có vay tiền của ông Nguyễn Thanh P là có sự thật.
Đối với số tiền 540.000.000 đồng thì theo nội dung biên nhận (V/v Hợp đồng vay mượn vốn) ngày 22/11/2023 có ghi: Bà Phan Thị L có vay của ông Nguyễn Thanh P số tiền 540.000.000 đồng, mục đích để kinh doanh, phương thức vay bằng tiền mặt, thời gian mượn và hoàn trả số tiền trên là 06 tháng, kể từ thời điểm ký hợp đồng là bà L đã nhận đủ tiền, hợp đồng ký trong tinh thần sáng suốt giữa hai bên, không có sự ép buộc hay lừa dối, bên người cho vay ký tên và ghi họ tên ông Nguyễn Thanh P, bên người vay ghi dòng chữ “Tôi đã đọc và đồng ý” ký tên và ghi họ tên bà Phan Thị L. Như vậy, bà L đã xác nhận nợ với ông P về số tiền 540.000.000 đồng này.
Chị Trương Thị Ngọc T, chị Lê Thị Tường V, chị Võ Thị Yến N1, anh Nguyễn Thanh H2 là người làm thuê cho ông Nguyễn Thanh P đều khai: A, chị chỉ là người đánh biên nhận (số tiền 540.000.000 đồng) và nhận tiền giùm cho ông P rồi đưa tiền nhận được lại cho ông P chứ việc vay tiền giữa bà L với ông P như thế nào thì anh, chị không nắm.
Ông H thừa nhận số tiền 540.000.000 đồng theo biên nhận ngày ngày 22/11/2023 là tiền lãi nhưng do vợ chồng bà L, ông H1 không đóng lãi theo thoả thuận nên giữa ông P, bà L, ông H1 chốt lại tổng số tiền mà bà L, ông H1 còn nợ lại ông P là 2.840.000.000 đồng theo hai biên nhận mà ông P đã cung cấp cho Toà án.
Ông Lê Văn H1 xác định ông là người biết đọc chữ, biết viết chữ và từng làm ăn kinh doanh nên khi ký xác nhận nợ với ông P thì ông phải biết rõ nội dung của biên nhận nợ. Do đó, xác định việc bà Phan Thị L vay tiền của ông Nguyễn Thanh P là ông Lê Văn H1 phải biết. Ông H1 và bà L đều xác nhận từ trước đến nay ông Lê Văn H1 và bà Phan Thị L vẫn còn chung sống, quan hệ vợ chồng vẫn đang còn tồn tại bình thường, mục đích vay tiền là để nuôi cá, kinh doanh mua bán cá.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng thì vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông H đại diện theo uỷ quyền của ông P đồng ý khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng theo biên nhận ngày 03/01/2024 vì biên nhận này bà L có trả tiền lãi cho ông P sau thời điểm làm biên nhận nợ ngày 22/11/2023, có ông Nguyễn Thanh H2 ký nhận (Bút lụt 26). Đối với biên nhận ngày 06/3/2024, số tiền 40.000.000 đồng thì ông P không thừa nhận vì không có chữ ký của người nhận tiền (Bút lụt 25). Do đó, ông Nguyễn Thanh P yêu cầu bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 liên đới trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay còn nợ là 2.690.000.000 đồng, không yêu cầu tính thêm lãi. Xét thấy chấp nhận sự tự nguyện này của ông Nguyễn Thanh P. Buộc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ông Nguyễn Thanh P với tổng số tiền 2.690.000.000 đồng, không yêu cầu tính thêm lãi là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Đối với việc nhận tiền của các người làm chứng không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[4] Đồng thời căn cứ vào đây quyết định các khoản chi phí, án phí dân sự sơ thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm bà L, ông H1 kháng cáo tại phiên tòa đề nghị xem xét đồng ý trả cho ông P số tiền là 2.300.000.000 đồng nhưng đề nghị xem xét giảm tiền lãi theo 69 biên nhận tiền của phía ông P.
[5] Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Bà L, ông H1 không cung cấp chứng cứ tài liệu gì mới. Đối với nhưng nội dung yêu cầu kháng cáo bà L, ông H1 nêu ra Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy bà L, ông H1 cũng đã trình bày và yêu cầu đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết đúng quy định pháp luật. Việc ông bà L, ông H1 yêu cầu không có căn cứ số tiền trả theo các biên nhận có liên quan số tiền theo biên nhận 2.300.000.000 đồng, trước đây cũng đã không có yêu cầu phản tố để Tòa án xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm đồng ý số tiền 2.300.000.000 đồng nhưng xin giảm tiền lãi. Xét tiền lãi theo biên nhận số tiền 540.000.000 đồng đã được xem xét giảm lãi theo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật có lợi cho ông H1, bà L. Do đó ông H1, bà L kháng cáo nhưng cũng không có chứng cứ gì chứng minh; không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L, ông H1.
Tuy nhiên cần ghi lại cách tuyên án để dễ dàng, để đảm bảo cho việc thi hành án.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp pháp luật nên chấp nhận. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên ông H1, bà L phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự ;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh P.
Buộc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ông Nguyễn Thanh P với tổng số tiền 2.690.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu 85.800.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Thanh P được nhận lại 44.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 05106 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Phan Thị L và ông Lê Văn H1 phải chịu 600.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền theo biên lai tạm ứng án phí số 0005228 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 533/2024/DS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 533/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thanh Phong BĐ: Phan Thị Loan
