|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:533/2025/HS-PT Ngày: 16-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các Thẩm phán: Ông Trương Thành Trung
Bà Chử Phương Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 394/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Hà Đình D do có kháng cáo của bị cáo D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Hà Đình D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1999; HKTT: Thôn P, xã P, huyện P, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Đình Đ, sinh năm 1975; Con bà: Nghiêm Thị N, sinh năm 1976; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án có bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/8/2024, Công ty Cổ phần Đ2; Địa chỉ: Số A L, phường Đ, quận H, TP. do ông Bùi Mạnh T làm tổng giám đốc có ký hợp đồng lao động số 86/2024/HĐLĐ-HACOM với Hà Đình D, sinh năm 1999; HKTT: Thôn P, xã P, huyện P, TP . thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 08/8/2024 đến ngày 07/8/2025. Công việc của D là nhân viên kinh doanh bán lẻ (nhân viên bán hàng) của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 do anh Phạm Văn T1, sinh năm 1988; HKTT: Khu đô thị V, phường P, quận H, TP . là người quản lý. Nhiệm vụ của D tại Công ty Cổ phần Đ2 – Chi nhánh H1 được mô tả trong “Bản mô tả công việc nhân viên kinh doanh bán lẻ” do Công ty Cổ phần Đ2 ban hành ngày 09/5/2024 là “Tư vấn bán hàng đạt mục tiêu được giao; Xuất hàng và nhập lại hàng hóa tại kho chi nhánh; Quản lý và sắp xếp hàng hóa tại khu vực được phân công; Đảm bảo thực hiện đúng giá bán, chương trình khuyến mãi và công nợ; Thực hiện công việc khác theo sự phân công của Quản lý” cụ thể D có nhiệm vụ tư vấn, bán hàng cho khách, khi khách mua hàng thì hướng dẫn khách nộp tiền, xuất hóa đơn và có nhân viên quản lý kho lấy hàng trong kho ra giao cho khách (trong trường hợp nhân viên quản lý kho không có ở cửa hàng thì D sẽ lấy luôn hàng khách chọn giao cho khách), thường xuyên kiểm tra hàng tồn kho; cuối giờ chiều check tồn kho mới nhất để lấy hàng mới từ kho tổng ra bày vào sáng hôm sau; mượn hàng từ kho trưng bày hàng; trưng bày hàng theo đúng khu vực được quy định; kiểm tra ngày tồn kho của các mặt hàng có trong quy định phải đảo hàng, điều chuyển hàng bày lâu ngày vào kho tổng, lấy hàng mới về ra trưng bày, quản lý hàng trưng bày tại quầy trưng bày máy tính xách tay tại tầng 2. Tuy nhiên, D không được phép tự ý mang hàng hóa của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 ra khỏi cửa hàng chi nhánh. Thực hiện ý định trên, từ ngày 24/9/2024 đến ngày 28/10/2024 trong ca làm việc của mình (gồm 02 ca, ca sáng từ 08 giờ đến 17 giờ 30 phút, ca tối từ 10 giờ 30 phút đến 20 giờ 30 phút), D đã lợi dụng việc được quản lý, sắp xếp lại hàng hóa tại quầy trưng bày tầng 2 và nảy sinh ý định chiếm đoạt 08 máy tính xách tay (mới chưa qua sử dụng) của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 do anh Phạm Văn T1 quản lý mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Ngày 24/9/2024, Hà Đình D đã lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G5 MF-H2VN353KH, màu đen để ở trên kệ tầng 02 của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 do anh Phạm Văn T1 làm quản lý, cho vào túi xách của D và để vào kệ đựng túi xách của cửa hàng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, D đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng C1 tại số H liền kề L, phường L, quận H, TP Hà Nội do anh Trần Phong P, sinh năm 1991 và chị Trần Quỳnh A, sinh năm 1994 cùng trú tại phường L, quận H, TP . (là chủ cửa hàng). Tại đây, chị Quỳnh A và D lập hợp đồng: Dương cầm cố chiếc máy tính trên cho chị Trần Quỳnh A lấy số tiền 10.000.000 đồng, với lãi xuất 1.000đ/1 triệu/1 ngày, trong thời gian 30 ngày, từ ngày 24/9/2024 đến ngày 24/10/2024. Sau khi làm xong hợp đồng, chị Quỳnh A sử dụng số tài khoản 0923192468 Ngân hàng M mang tên Trần Quỳnh A chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi cầm cố xong thì D quay lại cửa hàng làm việc bình thường và không bị ai phát hiện ra. Số tiền cầm cố được, D đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: Ngày 25/9/2024, D lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G6 MF-H2VN854KH, màu đen để ở trên kệ tầng 02 của cửa hàng, cho vào túi xách của D và để vào kệ để túi xách của cửa hàng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, D đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng C2 tại số D C, phường Y, quận H, TP . do anh Nguyễn Viết Q, sinh năm 1982; HKTT: TDP B, phường V, quận H, TP . (là chủ cửa hàng). Tại đây, D cầm cố chiếc máy tính trên cho anh Q. Qua kiểm tra anh Q thấy máy tính này còn mới, chưa sử dụng nên thỏa thuận cầm cố với số tiền 7.000.000 đồng, lãi xuất 1.500đ/1 triệu/1 ngày, trong thời gian 01 tháng (từ ngày 25/9/2024 đến ngày 24/10/2024), D đồng ý. Sau khi lập hợp đồng xong, anh Q sử dụng số tài khoản 0691000431609 mang tên Nguyễn Viết Q mở tại Ngân hàng V chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D số tiền 7.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được, D đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 25/10/2024, không thấy D đến chuộc chiếc máy tính xách tay đã cầm cố nên anh Q nhắn tin báo D đóng tiền lãi số tiền 630.000 đồng vào tài khoản của anh Q. Do lo sợ bị phát hiện nên D đã sử dụng tài khoản ngân hàng của D chuyển vào số tài khoản 0691000431609 Ngân hàng V của anh Quân số tiền 630.000 đồng. Anh Q nhận được tiền nên đã gia hạn cho D thời hạn cầm cố thêm 01 tháng (từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024).
- Vụ thứ ba: Ngày 02/10/2024, D đã lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Gaming TUF FA507NVR-LP091W, màu đen để ở trên kệ tầng 2 của cửa hàng Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1, cho vào túi xách của D và để vào kệ đựng túi xách cửa hàng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày khi các ca bàn giao nhau, D đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên tiếp tục đem đến cửa hàng C1 tại số H liền kề L, phường L, quận H, TP . cầm cố cho chị Quỳnh A lấy số tiền 10.000.000 đồng với lãi xuất 1.000đ/1 triệu/1 ngày, trong thời gian 38 ngày (từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/11/2024). Sau khi làm xong hợp đồng cầm cố, chị Quỳnh A chuyển khoản cho D số tiền 9.900.000 đồng vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D và đưa cho D 100.000 đồng tiền mặt. Sau đó, D quay lại cửa hàng làm việc bình thường, số tiền cầm cố được D đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 21/10/2024 khi gần hết thời hạn hợp đồng cầm cố của chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G5 MF-H2VN353KH, màu đen ngày 24/9/2024 thì chị Quỳnh A gọi điện yêu cầu D phải đóng tiền lãi và gửi số tài khoản ngân hàng cho D. Lúc này, D sợ chị Quỳnh A thanh lý chiếc máy tính và sợ bị phát hiện nên D đã sử dụng tài khoản ngân hàng của D chuyển vào tài khoản của chị Quỳnh A số tiền 1.000.000 đồng đóng lãi cho cả 02 chiếc máy tính. Chị Quỳnh A nhận được tiền nên tự gia hạn cho D thêm thời hạn cầm cố chiếc máy tính ban đầu.
- Vụ thứ tư: Ngày 11/10/2024, D đã lấy 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS Gaming Vivobook K3605ZU-RP296W, màu đen để ở trên kệ tầng 02 của cửa hàng, cho vào túi xách của D và để vào kệ đựng túi xách cửa hàng. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, D đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng cầm đồ Lịch sự tại số A P, phường P, quận H, TP do chị Đào Thị P1, sinh năm 1986 ở xã P, huyện T, TP . (là chủ cửa hàng). Tại đây, D cầm cố chiếc máy tính trên cho chị P1 với số tiền 8.000.000 đồng với lãi xuất 1.500đ/1 triệu/1 ngày, trong thời hạn 01 tháng. Chị P1 và D có lập hợp đồng cầm cố (Hợp đồng cầm cố chị P1 đã thất lạc). Sau khi làm xong hợp đồng, chị P1 sử dụng số tài khoản 0356930000 Ngân hàng M chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D số tiền 8.000.000 đồng, số tiền cầm cố được D đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ năm: Ngày 14/10/2024, D đã lấy 01 máy tính xách tay MSI Thin 15B13UCX2080VN, màu đen để ở trên kệ tầng 2 của cửa hàng, cho vào túi xách của D và để vào kệ đựng túi xách của cửa hàng. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, D đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng cầm đồ Hoàng P2 ở địa chỉ số D T, phường V, quận H, TP . do anh Trương Hải H, sinh năm 1996; HKTT: xã T, huyện T, TP . (là chủ cửa hàng). Tại đây, Anh H và D có lập hợp đồng cầm cố: D cầm cố chiếc máy tính trên với số tiền 9.000.000 đồng với lãi xuất 14.000đ/ngày trong thời gian 10 ngày (từ ngày 14/10/2024 đến ngày 23/10/2024). Sau khi làm xong hợp đồng, anh H sử dụng tài khoản ngân hàng số 16555566666 mang tên Đinh Mạnh T2 mở tại Ngân hàng T3 chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D số tiền 9.000.000 đồng, số tiền cầm cố được D đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 27/10/2024, anh H không thấy D đến cửa hàng để đóng tiền lãi gia hạn thêm hợp đồng nên đã nhắn tin yêu cầu D thanh toán 200.000 đồng tiền lãi kèm theo số tài khoản 16555566666 mang tên Đinh Mạnh T2, nếu không sẽ thanh lý chiếc máy tính xách tay trên. Đến ngày 28/10/2024 do lo sợ bị phát hiện, D đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 16555566666 mang tên Đinh Mạnh T2.
- Vụ thứ sáu: Ngày 22/10/2024, D đã lấy 01 máy tính xách tay MSI Thin 15B13UCX2080VN để ở trên kệ tầng 02 của cửa hàng, cho vào túi xách của D và để vào kệ đựng túi xách của cửa hàng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, D đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng cầm đồ Nhật Đ1 ở địa chỉ số C P, phường P, quận H, TP . do anh Trương Hải H sinh năm 1996; HKTT: xã T, huyện T, TP . (là chủ cửa hàng). Tại đây, Anh H có lập hợp đồng cầm cố với D: D cầm cố chiếc máy tính trên được 8.000.000 đồng với lãi xuất 12.000đ/ngày trong thời gian 10 ngày (từ ngày 22/10/2024 đến ngày 31/10/2024). Sau khi lập xong hợp đồng, anh H sử dụng số tài khoản 0984355555 Ngân hàng M mang tên Nguyễn Thị Thùy D1 chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D1 số tiền 8.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được, D1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 02/11/2024, anh H thấy hết hạn cầm cố không thấy D1 đến chuộc lại máy tính xách tay nên anh H nhắn tin cho D1 yêu cầu đóng số tiền 145.000 đồng tiền lãi, kèm theo số tài khoản 0984355555 mang tên Nguyễn Thị Thùy D1. Sau đó, vào ngày 03/11/2024 D1 đã chuyển khoản số tiền 145.000 đồng vào tài khoản khoản ngân hàng số 0984355555 mang tên Nguyễn Thị Thùy D1.
- Vụ thứ bảy: Ngày 25/10/2024, D1 đã lấy 01 máy tính xách tay Asus Gaming TUF FX507ZC4-HN095W, màu đen để ở trên kệ tầng 2 của cửa hàng, cho vào túi xách của D1 và để vào kệ đựng túi xách của cửa hàng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, D1 đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng cầm đồ Phú C ở địa chỉ số A đường V, phường V, quận H, TP . do anh Nguyễn Việt A1, sinh năm 1983; HKTT: TDP H, phường V, quận H, TP . (là chủ cửa hàng). Tại đây, D1 cầm cố chiếc máy tính trên với số tiền 7.000.000 đồng với lãi xuất 1.000đ/1 triệu/1 ngày, trong thời gian 20 ngày (từ ngày 25/10/2024 đến ngày 15/11/2024). Anh Việt A1 có lập hợp đồng cầm cố với D1 (nhưng sau đó D1 đã vứt hợp đồng này đi). Sau khi lập hợp đồng xong, anh Việt Al sử dụng số tài khoản 19036032769018 Ngân hàng T4 mang tên Nguyễn Việt Al chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D1 số tiền 8.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được, D1 đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ tám: Ngày 28/10/2024, D1 đã lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Gaming TUF FX507ZC4-HN095W, màu đen để ở trên kệ tầng 2 của cửa hàng, cho vào túi xách của D1 và để vào kệ đựng túi xách của cửa hàng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, D1 đã lấy chiếc túi xách bên trong đựng chiếc máy tính trên đem đến cửa hàng C3 ở số A đường V, phường V, quận H, TP . do anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1991; HKTT: xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (là chủ cửa hàng). Tại đây, D1 cầm cố chiếc máy tính trên với số tiền 8.000.000 đồng, lãi xuất 1.000đ/1 triệu/1 ngày, trong thời gian 15 ngày (từ ngày 28/10/2024 đến ngày 11/11/2024). Anh B có lập hợp đồng cầm cố với D1 (nhưng do sơ suất nên anh B đã làm thất lạc). Sau khi lập hợp đồng xong, anh B đã sử dụng số tài khoản 0858726666 Ngân hàng M mang tên Nguyễn Văn B mở tại Ngân hàng M chuyển vào số tài khoản 9567751999 Ngân hàng V của D1 số tiền 8.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được, D1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/11/2024, anh Phạm Văn T1 là quản lý chi nhánh của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 đi kiểm tra tại kệ trưng bày sản phẩm ở tầng 02 của chi nhánh thì thấy bị mất 08 (tám) chiếc máy tính xách tay các loại (mới chưa qua sử dụng) nên đã đến Công an phường P trình báo vụ việc trên.
Cùng ngày, Hà Đình D đến Công an phường P xin đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã như nêu trên.
* Vật chứng đã thu giữ:
- Thu giữ của Hà Đình D: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (đã qua sử dụng).
- Thu giữ của anh Trần Phong P: 01(một) máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G5 MF-H2VN353KH và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Gaming TUF FA507NVR-LP091W (mới, chưa qua sử dụng).
- Thu giữ của anh Nguyễn Viết Q: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G6 MF-H2VN854KH (mới, chưa qua sử dụng).
- Thu giữ của chị Đào Thị P1: 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS Gaming Vivobook K3605ZU-RP296W (mới, chưa qua sử dụng).
- Thu giữ của anh Trương Hải H: 02 (hai) máy tính xách tay nhãn hiệu MSI Thin 15B13UCX2080VN (mới, chưa qua sử dụng).
- Thu giữ của anh Nguyễn Việt A1: 01 (một) máy tính xách tay Asus Gaming TUF FX507ZC4-HN095W (mới, chưa qua sử dụng).
- Thu giữ của anh Nguyễn Văn B: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Gaming TUF FX507ZC4-HN095W (máy mới, chưa qua sử dụng).
Ngày 06/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H có Yêu cầu định giá tài sản số I, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H xác định giá trị của 08 (tám) máy tính xách tay đã thu giữ nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 178 ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận:
- “+ Giá trị tài sản 02 (hai) máy tính xách tay nhãn hiệu MSI Thin 15 B13UCX2080VN. (mới chưa qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 35.979.999 đồng.
- + Giá trị tài sản 02 (hai) máy tính xách tay cùng nhãn hiệu Asus Gaming TUFFX507ZC4-HN095W. (mới chưa qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 44.982.000 đồng.
- + Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G6MF-H2VN854KH. (mới chưa qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 12.595.000 đồng.
- + Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Gigabyte Gaming G5MF-H2VN353KH. (mới chưa qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 23.220.000 đồng.
- + Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Gaming Vivobook K3605ZU-RP296W. (mới chưa qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 25.249.999 đồng.
- + Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Gaming TUF FA507NVR-LP091W. (mới chưa qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 29.241.000 đồng”.
Tổng giá trị tài sản Hà Đình D chiếm đoạt của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 từ ngày 24/9/2024 đến ngày 28/10/2024 là 171.267.998 đồng.
Đối với 08(tám) chiếc máy tính xách tay mới (chưa qua sử dụng) đã thu giữ nêu trên của các chủ cửa hàng cầm đồ. Kết quả điều tra xác định: 08(tám) chiếc máy tính xách tay mới (chưa qua sử dụng) là tài sản mà Hà Đình D đã chiếm đoạt của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 vào các ngày 24/9/2024, 25/9/2024, 02/10/2024, 11/10/2024, 14/10/2024, 22/10/2024, 25/10/2024 và ngày 28/10/2024. Đây là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1. Ngày 14/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 722 trả lại 08(tám) chiếc máy tính xách tay mới (chưa qua sử dụng) cho anh Phạm Văn T1 đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ2 – Chi nhánh H1 là có căn cứ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng đã thu giữ của Hà Đình D. Đây là phương tiện, công cụ mà D dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành dân sự quận H để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Trần Phong P, Nguyễn Viết Q, Trương Hải H, Nguyễn Việt A1, Nguyễn Văn B và chị Đào Thị P1 là chủ các cửa hàng cầm đồ. Vào các ngày 24/9/2024, 25/9/2024, 02/10/2024, 11/10/2024, 14/10/2024, 22/10/2024, 25/10/2024 và ngày 28/10/2024 đã nhận cầm cố 08 (tám) chiếc máy tính xách tay mới (chưa qua sử dụng) của Hà Đình D nhưng không biết các tài sản trên do D phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận H không xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Đình D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với những lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 17/CT-VKS-HĐ ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hà Đình D về tội Tham ô tài sản theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số số 57/2025/HS-ST ngày: 18/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Đình D phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Đình D 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 28/3/2025, bị cáo Hà Đình D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Đình D vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Đình D từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
Lời nói sau cùng bị cáo Hà Đình D thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Đình D đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Hà Đình D là nhân viên kinh doanh bán lẻ (nhân viên bán hàng) của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 thuộc Công ty Cổ phần Đ2 do ông Bùi Mạnh T làm tổng giám đốc. Nhiệm vụ của Hà Đình D có trách nhiệm tư vấn, bán hàng cho khách, khi khách mua hàng thì hướng dẫn khách nộp tiền, xuất hóa đơn, quản lý hàng trưng bày tại tầng 02. Lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, trong khoảng thời gian từ ngày 24/9/2024 đến ngày 28/10/2024, Hà Đình D đã 08 lần chiếm đoạt 08 (tám) chiếc máy tính xách tay các loại (mới, chưa qua sử dụng) trị giá 171.267.998 đồng của Công ty Cổ phần Đ2 - Chi nhánh H1 thuộc Công ty Cổ phần Đ2 do anh Phạm Văn T1 làm quản lý mang đi cầm cố tại các cửa hàng cầm đồ trên địa bàn quận H, thành phố Hà Nội được tổng số tiền 67.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được D đã chi tiêu cá nhân hết.
Với hành vi phạm tội như trên bị cáo Hà Đình D bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt về tội "Tham ô tài sản" được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Hà Đình D, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, bị cáo đã chủ động tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được bồi thường, gia đình bị cáo có công với cách mạng, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới khung hình phạt áp dụng là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới là đơn của bị hại là Công ty cổ phần Đ2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, mức hình phạt 06 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần nghiêm khắc so với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo yên tâm cải tạo và cũng thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Hà Đình D.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Đình D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Giảm hình phạt cho bị cáo Hà Đình D.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Đình D phạm tội: “Tham ô tài sản”.
Áp dụng: Điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự ;
Xử phạt bị cáo Hà Đình D 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hà Đình D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lê Na |
Bản án số 533/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 533/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
