TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 533/2024/HS-PT Ngày 03 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Ông Chung Văn Kết
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị Lan H; Do kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 403/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 5 năm 2024.
- Bị cáo (không có kháng cáo):
Họ và tên: Phạm Thị Lan H; giới tính: nữ; sinh ngày 23 tháng 10 năm 1976, tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 H, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và cư trú: Số B Đường A, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Tin Lành; nghề nghiệp: Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty N; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Phạm Ngọc L (sinh năm 1941) và bà Hà Thị L1 (sinh năm 1951); có chồng (đã ly hôn) và có 02 người con (lớn sinh 1998; nhỏ sinh 2009); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2023. Có mặt
- Bị hại (có kháng cáo, có liên quan đến kháng cáo)
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm: 1963; Địa chỉ: D T, Phường B, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt
2/ Bà Dương Cẩm M, sinh năm: 1965; Địa chỉ: A L, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt
3/ Ông Huỳnh Vĩnh X, sinh năm 1989; Địa chỉ: B H, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (có kháng cáo)
1/ Bà Nguyễn Thị Lệ P, sinh năm: 1993; Địa chỉ: 3 N, Phường A, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh – có đơn xin vắng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P:
Luật sư Lê Ngọc Lam Đ, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Xin xét xử vắng
mặt.
Luật sư Huỳnh Thanh P1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt
2/ Ông Nguyễn Huy Đ1, sinh năm: 1982; HKTT: 128/17 T, Phường G, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 1 L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt
3/ Ông Phạm Hữu Q; Địa chỉ: C L, Phường E, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh – xin xét xử vắng mặt
4/Ông Âu Lê Vĩ L2, địa chỉ: A P, Phường B, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh – Xin xét xử vắng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L2:
Luật sư Nguyễn Minh Đ2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt
5/ Ông Đỗ Minh Q1, Ông Đỗ Quang S; Địa chỉ: I K, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt
(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phạm Ngọc A, 04 bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Toà không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn N được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0305764031, đăng ký thay đổi lần thứ 2 vào 28/10/2009; sau đó đăng ký thay đổi thành viên, tên gọi Công ty, trụ sở và người đại diện pháp luật nhiều lần bằng các tên gọi: Công ty Cổ phần B1 năm 2009, Công ty TNHH B1 năm 2015, Công ty TNHH N năm 2017... đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 09/3/2019, trụ sở: Tầng A khu V, số D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, do Phạm Ngọc A làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật (viết tắt là Công ty N).
1. Hành vi chiếm đoạt 14.729.392.109 đồng của 04 cá nhân, thông qua
việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập dự án, tự ý phân lô trái pháp luật
thửa đất số 75, tờ bản đồ 41, tọa lạc tại số G K, phường L, thành phố T (quận
T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, quảng cáo, chuyển nhượng nền đất thổ cư:
Giữa năm 2017, Phạm Ngọc A – Giám đốc Công ty N biết Nguyễn Huy Đ1 có thửa đất số 75, tờ bản đồ 41 tại địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang thế chấp tại ngân hàng. Đ1 có nhu cầu chuyển nhượng nên hai bên gặp, bàn bạc thống nhất việc chuyển nhượng đối với thửa đất trên, theo đó:
Ngày 01/12/2017, Phạm Ngọc A ký Hợp đồng với Nguyễn Huy Đ1 thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0112 -2017/TTĐC về việc: chuyển nhượng Thửa đất trên (Phan Văn Q2 đứng tên chủ sở hữu, do Q2 đứng tên giúp Đ1) cho Công ty N, tổng giá trị Hợp đồng là 105.000.000.000 đồng, đặt cọc 9.500.000.000 đồng. Số tiền còn lại được thanh toán sau 30 ngày, kể từ ngày đặt cọc. Thực hiện hợp đồng, Nguyễn Huy Đ1 đã nhiều lần nhận tiền đặt cọc của Công ty N.
Ngày 29/01/2018, Nguyễn Huy Đ1 ký phụ lục thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất số 01/0112-2017/PL-TTĐC với Phạm Ngọc A về thời hạn thanh toán tiền cọc liên quan đến Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc số 0112-2017/TTĐC. Số tiền chuyển nhượng còn lại trễ nhất ngày 30/3/2018, Công ty N phải thanh toán cho Đ1 vào tài khoản chỉ định tại Ngân hàng B2 đã được ngân hàng P5. Cùng ngày, Nguyễn Huy Đ1 với Phạm Ngọc A ký Hợp đồng ủy quyền số 003858 tại Văn phòng C, số A T, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung: “Trong trường hợp được ngân hàng nhận thế chấp đồng ý, Công ty N được thay mặt và nhân danh Nguyễn Huy Đ1 liên hệ Ngân hàng B2 – Chi nhánh Q3 và Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để nộp và nhận hồ sơ tách thửa, ký hợp đồng nhận đặt cọc, nhận tiền cọc, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ Hợp đồng đặt cọc đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: G K, KP5, P . L, Q . T, căn cứ theo quy định của pháp luật”.
Ngày 07/4/2018, Nguyễn Huy Đ1 tiếp tục ký phụ lục thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất số 02/0112-2017/PL-TTĐC với Phạm Ngọc A xác nhận số tiền cọc đã nhận và thời hạn thanh toán giá trị chuyển nhượng đến ngày 27/4/2018 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại.
Ngày 10/5/2018, Nguyễn Huy Đ1 và Phạm Ngọc A tiếp tục ký phụ lục thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất số 03/0112-2017/PL-TTĐC có nội dung xác nhận số tiền cọc và thanh toán cho Đ1 là 12.300.000.000 đồng; gia hạn thời gian trễ nhất đến 25/6/2018 phải thanh toán giá trị chuyển nhượng còn lại 92.650.000.000 đồng. Nếu đến thời hạn trên, Công ty N không thực hiện theo thỏa thuận sẽ mất toàn bộ số tiền đã đặt cọc. Cùng ngày, Phan Văn Q2, Nguyễn Huy Đ1 và Phạm Ngọc A ký Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền với Công ty N liên quan đến Hợp đồng ủy quyền số 003858 ngày 29/01/2018 nêu trên tại Văn phòng C.
Sau đó, Công ty N không tiếp tục chuyển tiền theo thoả thuận nên ngày 28/6/2018 Nguyễn Huy Đ1 đã bán Thửa đất số 75 cho Nguyễn Lê D.
Mặc dù không phải chủ sở hữu và chưa được phép của các Cơ quan chức năng nhưng Công ty N - Phạm Ngọc A tự vẽ bản đồ phân lô, tách thửa đối với Thửa đất số 75, thành 20 nền đất với tổng diện tích 2.575.5m² (có ký tự A1-A20, diện tích từ 60 đến 100m²/nền) để bán cho khách hàng bằng cách:
Ngày 10/4/2018, Công ty N ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới số 02/2018/HĐMG-LÐ-NVH với Công ty M2 (viết tắt là Công ty M2), địa chỉ số I, N, Phường B, quận B, về việc môi giới, bán đất nền dự án Civitas Linh Đ3, địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T. Nhân viên Công ty M2 quảng cáo, trình phát tờ rơi, giới thiệu và trực tiếp tư vấn cho khách hàng thông tin về dự án đất nền Civitas L do chủ đầu tư là Công ty N đang trong thời gian hoàn tất hồ sơ pháp lý và sẽ hoàn thành việc giao nền trong tháng 6/2018; Đồng thời cung cấp cho khách hàng các giấy tờ pháp lý, gồm:
- Giấy CNQSDĐ số 5955/2008/GCN do ông Phan Văn Q2 đứng tên;
- Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và đất số 0112- 2017/TTĐC ngày 01/12/2017 được ký giữa Nguyễn Huy Đ1 với Phạm Ngọc A – Giám đốc Công ty N;
- Hợp đồng ủy quyền số 003858 ngày 29/01/2018 cho Phạm Ngọc A liên hệ Ngân hàng và các Cơ quan để được chia lô, tách thửa, nhận tiền đặt cọc tại văn phòng C, thời hạn ủy quyền của ông Phan Văn Q2 và Nguyễn Huy Đ1 cho Phạm Ngọc A là 02 tháng;
- Bản vẽ của 20 lô đất nền được đánh số từ A và bảng giá các lô đất của Dự án tên gọi Civitas Linh Đ3;
- Phương thức thanh toán khi khách hàng đặt cọc mua đất sẽ ký hợp đồng và thanh toán thành 05 đợt các lô đất của dự án tên gọi Civitas Linh Đ3.
Tin tưởng các thông tin pháp lý do Công ty N đưa ra, có 04 khách hàng đã ký hợp đồng thỏa thuận đặt cọc, thanh toán, chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng S1 Chi nhánh N1; Ngân hàng Q4 Chi nhánh S2; Ngân hàng O Chi nhánh N2 của Công ty N do Phạm Ngọc A đại diện theo pháp luật số tiền tổng cộng 14.729.392.109 đồng, để mua các nền đất, cụ thể:
- Ông Đào Quang D1 ký thỏa thuận đặt cọc số 17/2018/TTĐC-CLĐNVH ngày 12/5/2018 với Phạm Ngọc A (đại diện Công ty N) mã lô đất 17 (82.51m²); giá trị chuyển nhượng 6.300.633.695 đồng. và chuyển đặt cọc 1.890.190.109 đồng (30% trị giá hợp đồng).
- Ông Lê Ngọc D2 ký thỏa thuận đặt cọc số 09/2018/TTĐC-CLĐNVH ngày 21/4/2018 với Phạm Ngọc A (đại diện Công ty N); mã lô đất 09 (74.45m²); giá trị chuyển nhượng 5.539.110.052 đồng; đã chuyển đặt cọc 5.104.000.000 đồng (95% trị giá hợp đồng);
- Vợ chồng Dương Quang V và Trần Công Nhất U ký thỏa thuận đặt cọc số 10/2018/TTĐC-CLĐNVH ngày 26/4/2018 với Phạm Ngọc A mã lô đất 10 (95.73m²); giá trị chuyển nhượng 7.657.338.510 đồng; đã chuyển đặt cọc 3.157.202.000 đồng (41% trị giá hợp đồng); đã nhận lại 100.000.000 đồng.
- Ông Lê Duy K ký thỏa thuận đặt cọc số 02/2018/TTĐC-CLĐNVH ngày 11/4/2018 với Phạm Ngọc A (đại diện Công ty N) mã lô đất 04 (66.75m²); giá trị chuyển nhượng 4.968.269.250 đồng; đã chuyển đặt cọc 4.578.000.000 đồng (95% trị giá hợp đồng); đã nhận lại 300.000.000 đồng.
Đến tháng 10/2018, một số khách hàng phát hiện tại mặt bằng dự án có treo băng rôn, vẽ chữ, với nội dung “đất tranh chấp” nên đến Công ty N yêu cầu hoàn trả lại tiền nhiều lần nhưng không gặp được Phạm Ngọc A. Nên đến cuối tháng 12/2018, các khách hàng có đơn tố giác tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Kết quả xác minh của Cơ quan Điều tra:
- Kết quả xác minh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H: Công ty N được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0305764031; Công ty đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 09/3/2019; trụ sở: Tầng A khu V, số D N, phường Đ, Quận A, do Phạm Ngọc A làm Tổng Giám đốc là người đại diện pháp luật của Công ty;
- Kết quả xác minh tại Ban quản trị tòa nhà Indochina Park: Công ty N ký hợp đồng thuê “Văn phòng chia sẻ” với Công ty TNHH G; thời hạn từ ngày 01/02/2019 đến 01/8/2020 với trị giá 10.000.000 đồng được Công ty N trả tiền mặt. Từ thời điểm ký hợp đồng đến ngày 23/7/2019 (thời điểm Cơ quan Điều tra xác minh), Giám đốc và nhân viên Công ty N đều không đến trụ sở để làm việc. Toàn bộ thông tin, công văn của các đơn vị gửi đến được Công ty TNHH G thông minh thông báo bằng email đến Công ty N đến nhận nhưng Công ty không đến nhận;
- Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh không có thông tin quy hoạch dự án đất nền Civitas L được cấp UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt về việc chia lô, tách thửa bán nền đất;
- Kết quả xác minh tại Chi cục thuế Q5, Thành phố Hồ Chí Minh: Công ty N chưa bị xử lý về vi phạm thuế; Báo cáo Bảng cân đối kế toán năm (năm 2018) không có các giao dịch phát sinh từ việc kinh doanh đất nền tại địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Kết quả xác minh tại Phòng T1 – quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: Địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng số 5955/2008/GCN đã được UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Phan Văn Q2 vào ngày 29/3/2016 và đến nay ngày 28/6/2018 được chuyển nhượng cho Nguyễn Lê D, cư trú tại C P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Kết quả xác minh tại Ngân hàng B2, Chi nhánh T2 (nay là Chi nhánh Q3):
- +Lô đất tại địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5955/2008/GCN do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Phan Văn Q2 vào năm 2016, được thế
chấp bảo lãnh cho Nguyễn Duy Đ4 – Giám đốc Công ty CP T3 theo Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 02/2016/5133514/HĐBĐ ngày 29/3/2016 tại Ngân hàng với số tiền 103.000.000.000đồng (từ ngày 03/3/2016 đến 03/3/2021);
- + Ngày 02/11/2017, Ngân hàng B2 nhận được văn bản của Nguyễn Huy Đ1 đề nghị được nhận tiền cọc trực tiếp của khách hàng và giao dịch trực tiếp với khách hàng mua lô đất nêu trên để làm thủ tục chuyển nhượng sở hữu lô đất và giải quyết khoản nợ vay ngân hàng.
- + Ngày 03/11/2017, Ngân hàng B2 đồng ý để Nguyễn Huy Đ1 được bán tài sản với điều kiện “thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi bảo đảm của hợp đồng thế chấp bằng bất động sản”.
- Kết quả sao kê các tài khoản các Ngân hàng và văn bản xác nhận của Công ty N liên quan các Hợp đồng mà Ngọc A đã ký với các khách hàng gồm: Đào Quang D1, Lê Quang D3, Trần Công Nhất U, Lê Duy K thể hiện liên quan dự án Civitas Linh Đ3 nêu trên các khách hàng đã thanh toán chuyển cho Công ty N tổng cộng 14.729.392.109 đồng.
- Kết luận giám định số 1502, ngày 03/9/2019, của Phòng K1 – Công an Thành phố H xác định: chữ ký Phạm Ngọc A đứng tên Giám đốc Công ty N trên các Hợp đồng đặt cọc, Phụ lục hợp đồng với các khách hàng; Thỏa thuận đặt cọc, Hợp đồng ủy quyền, Phụ lục hợp đồng ... so với các mẫu so sánh do cùng một người ký ra;
- Kết luận giám định số 1762, ngày 29/4/2022 của Phòng K1 – Công an Thành phố H xác định: chữ ký của Phạm Thị Lan H đứng tên thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên trên các Biên bản họp thành viên, Thông báo thay đổi thông tin đăng ký của Công ty N so với chữ ký Phạm Thị Lan H thu được do cùng một người ký ra; con dấu Công ty TNHH N trên các Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc với các khách hàng so với con dấu Công ty TNHH N thu được là do cùng một con dấu đóng ra.
- Kết quả nhận dạng: những người liên quan được yêu cầu nhận dạng Phạm Ngọc A xác định chính xác ảnh trong bản ảnh nhận dạng là Phạm Ngọc A với vai trò Giám đốc Công ty N.
Kết quả ghi lời khai và làm việc với các cá nhân, tổ chức có liên quan:
Ông Nguyễn Huy Đ1 khai: Thửa đất số 75 thuộc quyền sở hữu của Đ1, nhưng nhờ Phan Văn Q2 đứng tên trên Giấy CNQSDĐ. quá trình kinh doanh, Đ1 thế chấp tài sản vay vốn đối với lô đất nêu trên tại Ngân hàng B2 – Chi nhánh Q3; Vì áp lực trả lãi vay ngân hàng nên Đ1 chủ động làm đơn xin được bán tài sản và được ngân hàng đồng ý với điều kiện đảm bảo trả nợ vay. Đ1 đã ký thỏa thuận Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0112-2017/TTĐC và Hợp đồng ủy quyền với Phạm Ngọc A như nêu trên. Trong hợp đồng thỏa thuận nêu rõ Phạm Ngọc A thu tiền đặt cọc của các khách hàng phải chuyển vào tài khoản chỉ định (được Ngân hàng B2 – Chi nhánh Q3 phong tỏa để đảm bảo việc trả nợ – lãi vay). Sau khi ký hợp đồng, giữa Đ1 và Phạm
Ngọc A tiếp tục ký nhiều phụ lục thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất liên quan nhằm xác nhận số tiền 12.300.000.0000đ đã thanh toán cho Đ1 và gia hạn thời gian mua đất đến 26/6/2018 phải thanh toán số tiền còn lại để mua lô đất trên, nếu quá ngày trên sẽ mất tiền đã đặt cọc. Tuy nhiên sau đó, Phạm Ngọc A không thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng đặt cọc, không tiếp tục thực hiện việc thanh toán chuyển nhượng nên Đ1 hủy việc ủy quyền với Phạm Ngọc A. Đến ngày 28/6/2018, Đ1 thông qua khách hàng của Ngân hàng đã bán lô đất trên cho Nguyễn Lê D để thanh toán khoản vay Ngân hàng. Việc Công ty N vẽ sơ đồ phân lô, ký hợp đồng cho các công ty môi giới bán đất...và thu tiền đặt cọc của các khách hàng, Đ1 không biết.
Ông Phan Văn Q2 khai: Q2 và Đ1 là bạn quen biết lâu năm, Q2 chỉ đứng tên trên Giấy CNQSDĐ tại địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giúp Nguyễn Huy Đ1. Trong thời gian đứng tên, Q2 thế chấp tài sản trên vào Ngân hàng B2-Chi nhánh Q3 để bảo lãnh khoản vay cho Công ty của Đ1 theo yêu cầu của Đ1, còn các giao dịch khác liên quan việc chuyển nhượng giữa Đ1 và Phạm Ngọc A, Q2 chỉ biết là có nhưng thực tế ra sao không rõ. Sau đó ngày 28/6/2018, Đ1 yêu cầu Q2 công chứng sang tên thửa đất trên cho Nguyễn Lê D để thanh toán khoản vay ngân hàng;
Ông Nguyễn Lê D khai: D mua Thửa đất số 75 của Nguyễn Huy Đ1 thông qua môi giới của Ngân hàng B2 – Chi nhánh Q3 để xử lý nợ cho Công ty của Đ1 vào ngày 28/6/2018. Liên quan việc chuyển nhượng giữa Nguyễn Huy Đ1 và Phạm Ngọc A thì D không biết. Hiện thửa đất trên D cũng đã chuyển nhượng lại cho người khác, không đứng tên sở hữu;
Các cá nhân tố giác trình bày: Toàn bộ nội dung sự việc như nêu trên và tự nguyện giao nộp tự nguyện giao nộp hồ sơ liên quan gồm: sơ đồ phân lô đất, kèm diện tích từng lô nhỏ; các hợp đồng đặt cọc, phụ lục hợp đồng, phiếu giữ chỗ... để phục vụ công tác điều tra và yêu cầu được nhận lại số tiền đã bị chiếm đoạt.
Ông Lê Minh T – Giám đốc Công ty M2 (Công ty M2), khai: Công ty N ký hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới số 02/2018/HĐMG-LÐ-NVH ngày 10/4/2018 với Công ty N làm môi giới cho về việc bán đất nền dự án Civitas Linh Đ3, địa chỉ số G K, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh trên các thông tin dự án đang được triển khai và đang đã nộp đơn xin phép cơ quan chức năng để chia lô, tách thửa, bán nền. Công ty N cam kết trong thời hạn 02 tháng kể từ lúc ký thỏa thuận hợp đồng đặt cọc sẽ giao đất nền cho khách hàng đúng tiến độ và kèm theo các giấy tờ bản vẽ phân lô, hợp đồng ủy quyền của Phan Văn Q2, Nguyễn Huy Đ1 với Phạm Ngọc A liên quan đến lô đất trên. Đồng thời, T đã ký quỹ tạm ứng số tiền khoảng 1.000.000.000đ cho Công ty N nhưng đến nay chỉ mới thu lại khoản tiền tạm ứng, Công ty N chưa trả lợi nhuận liên quan việc môi giới;
Bị cáo Phạm Thị Lan H khai nhận: H là chị ruột của Phạm Ngọc A; Tháng 5/2017, H chuyển nhượng phần vốn góp và do Công ty có hai thành viên trở lên nên H đề nghị Phạm Ngọc A tham gia đứng tên chuyển nhượng phần vốn. Thực chất việc chuyển nhượng vốn chỉ là hình thức (hồ sơ đăng ký doanh nghiệp vốn
điều 10.000.000.000đ; trong đó H chiếm 49% và Ngọc A chiếm 51%), sau đó H làm thủ tục đăng ký (lần thứ 9) thay đổi tên thành Công ty TNHH N, trụ sở: Tòa nhà B H, P. B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nâng vốn điều lệ 120.000.000.000đ (việc góp vốn nâng vốn điều lệ không có thực, chỉ là hình thức để phù hợp với các hoạt động, kinh doanh) thời điểm này do H làm Tổng Giám đốc và người đại diện pháp luật; Đến khoảng 6/2017, vì lý do cá nhân nên H kêu Phạm Ngọc A đứng danh nghĩa làm Giám đốc, người đại diện pháp luật, còn H làm Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty N, nhưng H vẫn là người điều hành, quản lý, quyết định mọi vấn đề liên quan hoạt động của Công ty, khi có các vấn đề liên quan đến pháp lý, ký văn bản giấy tờ của Công ty, H sẽ yêu cầu Phạm Ngọc A ký và H sử dụng dấu Công ty để đóng. Đến khoảng 12/2017, H chuyển nhượng phần vốn của H lại cho Phạm Ngọc L3 (em ruột của H, việc chuyển nhượng này cũng chỉ là hình thức, thực tế L3 không tham gia gì vì lúc này L3 bị tai biến không đi lại được, H mượn giấy tờ của L3 để đăng ký đứng tên thành viên Công ty T4 cho H, mọi việc vẫn do H điều hành, quản lý) đồng thời thay đổi tên thành Công ty TNHH N;
Liên quan đến Dự án đất nền Civitas L tại thửa đất số 75, tờ bản đồ 41, tọa lạc tại số G K, phường L, (quận T cũ) thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh: thửa đất này H chỉ đạo nhân viên Công ty N lập bảng vẽ phân lô, bảng giá thanh toán – mặc dù chưa được sự cho phép của các Cơ quan chức năng, sau đó yêu cầu Phạm Ngọc A ký Hợp đồng với Công ty M2, ký thỏa thuận nhận chuyển nhượng các nền đất ..., nhận tiền thanh toán mua đất nền vào tài khoản Công ty N nhưng cho đến nay không có đất nền giao như thỏa thuận, chưa hoàn trả lại tiền đã nhận của 04 khách hàng gồm Đào Quang D1, Lê Quang D3, Trần Công Nhất U, Lê Duy K với tổng cộng số tiền 14.729.392.109 đồng trong dự án trên. Số tiền đã nhận của khách hàng H đã thanh toán chuyển nhượng thửa đất trên với Nguyễn Huy Đ1, sau đó Công ty N không đủ khả năng tài chính tiếp tục thực hiện chuyển nhượng và không thỏa thuận được với Đ1 về số tiền đã chuyển liên quan cho đến nay;
- Bị cáo Phạm Ngọc A khai nhận: Công ty N nhiều lần thay đổi thành viên góp vốn, thay đổi đăng ký người đại diện pháp luật như nêu trên; Trước đó Công ty do chị ruột Ngọc A là Phạm Thị Lan H đứng tên Tổng Giám đốc và người đại diện pháp luật; đến khoảng 5/2017, Phạm Thị Lan H nhờ Ngọc A đứng tên Giám đốc, người đại diện pháp luật Công ty N để thực hiện việc kinh doanh bất động sản. Phạm Ngọc A có đứng tên đăng ký chủ sở hữu 03 tài khoản tại Ngân hàng S1 Chi nhánh N1; Ngân hàng Q4 Chi nhánh S2; Ngân hàng O Chi nhánh N2 để thực hiện các giao dịch liên quan Công ty N.
Liên quan Thửa đất 75 nêu trên, Ngọc A là người đại diện Công ty ký Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0112- 2017/TTĐC thực hiện việc đặt cọc thửa đất trên vào ngày 01/12/2017, sau đó tiếp tục ký nhiều phụ lục hợp đồng, văn bản để thực hiện việc chuyển nhượng trên với Nguyễn Huy Đ1; là người ký hợp đồng với Công ty M2 bất động sản để chào bán các đất nền liên quan dự án trên và ký các hợp đồng thỏa thuận đặt cọc với một số khách hàng mua các nền đất là do nhân viên soạn sẵn sử dụng con dấu Công ty để
đóng dấu. Ngọc A ký theo yêu cầu Lan H; còn nội dung thỏa thuận, ký các phụ lục gia hạn, chuyển tiền đặt cọc cho Đ1 đều do Lan H trao đổi và thực hiện thanh toán cho Đ1 qua tài khoản Công ty; Việc lập dự án, phân lô tách thửa và ký hợp đồng bán chuyển nhượng đất nền trên Thửa đất 75 với tên gọi Civitas Linh Đ3, được phân thành bao nhiêu nền đất thì Ngọc A không biết chính xác, chỉ nhớ khoảng 20 nền. Việc xin lập dự án, xin phê duyệt phân lô tách thửa hay không, đã được phê duyệt chưa đã chào bán cho khách hàng ra sao Ngọc A không rõ, không biết gì về việc kinh doanh bất động sản, mọi thủ tục đều do nhân viên Công ty V1 thực hiện, Ngọc A chỉ ký hợp đồng với khách hàng khi có yêu cầu. Việc thiết kế bản vẽ, quảng cáo, lập bảng giá và rao bán, thu chi liên quan đều do L1 Hương điều hành, quản lý, chỉ đạo phân công nhân viên thực hiện, không biết vai trò cụ thể nhân viên ra sao. Tiền các khách hàng thanh toán tiền mặt hoặc chuyển vào tài khoản chỉ định của Công ty N đều giao cho Lan H sử dụng, còn sử dụng vào việc gì và sử dụng thế nào Ngọc A không rõ. Ngọc A biết việc lập dự án, phân lô tách thửa và ký hợp đồng bán chuyển nhượng đất nền tên gọi Civitas Linh Đ3 nêu trên không thực hiện được. Hiện Công ty N không có đất nền để giao như thỏa thuận, tiền nhận của khách hàng không hoàn trả lại nên các khách hàng đã tố cáo Ngọc A và Công ty N đến Cơ quan Điều tra.
2. Hành vi chiếm đoạt 23.126.271.244 đồng của 03 cá nhân thông qua
việc chuyển nhượng, lập dự án, tự ý phân lô trái pháp luật tại dự án H - T,
phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, quảng cáo, chuyển nhượng dưới
hình thức hợp tác đầu tư.
Tháng 8/2017, Phạm Thị Lan H liên hệ với ông Phan Tiến D4, chủ 09 thửa đất từ số 530 đến 538, Tờ bản đồ số 7, vị trí mặt Kênh T-N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua thửa đất nêu trên với giá 166.000.000.000 đồng. H nhờ Âu Lê Vĩ L2 (em chồng H) đứng ra thực hiện việc chuyển nhượng với danh nghĩa cá nhân. Theo đó, L2 tạm ứng 05 tỷ đồng thay Công ty N và ký hợp đồng chuyển nhượng với ông D4. Sau đó, ông D4 và L2 ký hợp đồng đặt cọc không số đề ngày 26/8/2017. Cùng ngày, Công ty N do đại diện Phạm Ngọc A ký hợp đồng hợp tác số 01/2017 với L2 để thực hiện việc kinh doanh bán các lô đất trên. Căn cứ hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng với ông D4 và hợp đồng hợp tác với L2, Công ty N đã chuyển tiền cho L2 để đặt cọc thực hiện việc chuyển nhượng trên với D4.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng đến ngày 05/10/2017, Công ty N phải thanh toán số tiền còn lại. Tuy nhiên, L2 và H (đại diện Công ty N) không có đủ tiền chuyển nhượng với ông D4, do đó H liên hệ vay ngân hàng để tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng đến thời gian thỏa thuận vẫn không được Ngân hàng cho vay nên H gặp và thoả thuận với Nguyễn Thị Lệ P cùng thực hiện chuyển nhượng các thửa đất trên. Theo đó, các bên ký thỏa thuận 03 bên gồm L2 (bên A), ông D4 (bên B), Nguyễn Thị Lệ P (bên C) theo Biên bản xác nhận đặt cọc và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/10/2017 việc cùng nhau thực hiện hợp đồng chuyển nhượng với giá 166.000.000.000 đồng. Cùng ngày, P chuyển tiền cho D4 02 lần với tổng cộng 80.000.000.000 đồng.
Ngày 20/10/2017 và 23/10/2017, L2 thanh toán số tiền 20.000.000.000 đồng cho D4 liên quan việc chuyển nhượng trên. Sau khi thỏa thuận về việc thực hiện tiếp tục hợp đồng gồm D4, L2, P cùng nhau thống nhất làm giấy chỉ định P thay mặt đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với D4 sau khi thực hiện xong.
Ngày 24/11/2017, P tiếp tục thực hiện việc thanh toán phần còn lại cho D4 số tiền 60.000.000.000 đồng vào Ngân hàng A2 để thực hiện công chứng, đăng bộ sang tên cho P. Còn 1.000.000.000 đồng sử dụng cho việc đóng phí, thuế liên quan việc chuyển nhượng theo thỏa thuận. Cùng ngày, D4 (bên A), L2 (bên B), P (bên C) xác định việc thực hiện hợp đồng và số tiền các bên đã bỏ ra, đã nhận của 03 bên bằng Biên bản thỏa thuận thể hiện quyền lợi và trách nhiệm các bên liên quan việc thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng Thửa đất 530 đến 538.
Ngày 11/12/2017, giữa D4, L2, P lập biên bản xác nhận việc giao lại mặt bằng các thửa đất trên cho L2 và P. Thực hiện thỏa thuận, tổng cộng P đã chuyển thanh toán 140.000.000.000 đồng, Luân chuyển số tiền 25.000.000.000 đồng cho D4. Sau khi P đứng tên trên các giấy đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng Công ty N không có tiền thanh toán để tiếp tục thực hiện việc cùng chuyển nhượng nên P đã sang tên cho người khác, đồng thời P chưa hoàn trả lại số tiền mà L2 và Công ty N bỏ ra là 25.000.000.000 đồng để cùng thực hiện việc chuyển nhượng Thửa đất 530-538 nêu trên.
Mặc dù chưa phải là chủ sở hữu, đang trong quá trình thực hiện việc chuyển nhượng các thửa đất nêu trên, nhưng từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017, Công ty N đã vẽ phân lô, quảng cáo, phát tờ rơi, giới thiệu và tư vấn cho khách hàng thông tin về dự án đất nền tên gọi H2 do Công ty N làm chủ đầu tư được vẽ phân lô thành 32 nền đất (một nền khoảng từ 80-100m²) ký hiệu từ A1-A32 trên tổng diện tích các thửa đất 530-538. Đồng thời, Phạm Ngọc A ủy quyền cho Nguyễn Long P2 - Giám đốc kinh doanh làm đại diện việc ký hợp đồng với 03 khách hàng gồm các Hợp đồng hợp tác đầu tư theo giai đoạn, Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc, cụ thể:
- Bà Nguyễn Thị Thanh H1 ký Hợp đồng số 04/HĐHTĐT/NVH-HL ngày 01/12/2017 với Công ty N; số nền A16, Diện tích 85,35m² giá trị chuyển nhượng 6.288.000.000 đồng, đã chuyển 5.973.600.000 đồng; đã nhận lại 300.000.000 đồng;
- Bà Dương Thị Cẩm M1 ký Hợp đồng số 06 và 07 /HĐHTĐT/NVH-HL ngày 29/12/2017 với Công ty N; số nền A2, diện tích 90,07m²; và số nền A9, diện tích 86,69m² giá trị chuyển nhượng 6.031.275.229 đồng đã chuyển 4.789.664.829 đồng; đã nhận lại 500.000.000 đồng;
- Ông Huỳnh Vĩnh X ký Hợp đồng số 05 và 06/HĐHTĐT/NVH-HL ngày 14/12/2017 với Công ty N; số nền A5, diện tích 90,78m²; và số nền A6, diện tích 86,04m² giá trị chuyển nhượng 12.921.746.865 đồng. Đã chuyển số tiền tổng cộng 12.363.000.415 đồng;
Tổng số tiền 03 khách hàng đã chuyển vào tài khoản 0019100006118009 Ngân hàng O (O) Chi nhánh N2 của Công ty N do Phạm Ngọc A làm chủ tài khoản là 23.126.265.244 đồng.
Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra:
- Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân và Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ quận T: không phê duyệt cấp phép dự án đất nền mang tên Heart L4 Kênh T cho cá nhân hay tổ chức nào trên Thửa đất 530-538; Giai đoạn 8/2017-12/2017, không có cá nhân hay tổ chức nào liên hệ xin phép và được sự đồng ý của cơ quan chức năng về việc phân lô tách thửa đối với thửa đất. Việc tự ý treo biển quảng cáo dự án nhà ở mang tên gọi Heart Land – N tại lô đất đã bị nhắc nhở và buộc tháo dỡ bảng quảng cáo. Khoảng tháng 12/2017, Nguyễn Thị Lệ P xin phép được phân lô, tách thửa để làm nhà ở và được UBND quận T chấp thuận sau thay đổi cho Trần Vĩnh P3. Hiện Thửa đất trên đã được tách thành 32 thửa và Trần Vĩnh P3 đã chuyển nhượng sang tên cho nhiều cá nhân khác 32 thửa đất trên (danh sách, giấy chứng nhận kèm theo).
- Kết quả xác minh tại Toà án nhân dân quận Tân Phú: Tháng 5/2018, TAND quận Tân Phú tiếp nhận thụ lý vụ án dân sự về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Âu Lê Vĩ L2 khởi kiện Nguyễn Thị Lệ P cùng một số cá nhân liên quan đên Thửa đất 530-538. Ngày 15/8/2018, TAND quận Tân Phú đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì Âu Lê Vĩ L2 rút đơn khởi kiện. Đến khoảng 10/2018, TAND quận Tân Phú tiếp tục nhận được Đơn khởi kiện Nguyễn Thị Lệ P cùng một số cá nhân liên quan Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu ngăn chặn việc chuyển nhượng của P, hiện TAND quận Tân Phú đã tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trên do chưa thu thập đủ tài liệu, chứng cứ.
- Kết quả xác minh, sao kê tài khoản của Công ty N và các cá nhân có liên quan: số tiền chuyển và nhận phù hợp với nội dung trình bày.
- Kết luận giám định số 3701/KLGĐ-TT của Phòng K1 Công an Thành phố H xác định: chữ ký của Phạm Ngọc A trên các hợp đồng hợp tác số 01/2017 ngày 26/8/2017 với Âu Lê Vĩ L2 và biên bản thỏa thuận, cam kết với khách hàng mua đất nền dự án Heart Land T là do Phạm Ngọc A ký ra. Con dấu của Công ty TNHH N trên các hợp đồng hợp tác số 01/2017 ngày 26/8/2017 với Âu Lê Vĩ L2, hợp đồng hợp tác đầu tư; đặt cọc; phụ lục; giấy xác nhận thanh toán với các khách hàng là do cùng một con dấu đóng ra.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo và những người liên quan khai nhận như sau:
Ông Phan Tiến D4 (chủ đất) khai: năm 2017, ông D4 có thỏa thuận với Âu Lê Vĩ L2, Phạm Thị Lan H và chỉ định Nguyễn Thị Lệ P đứng tên trên giấy tờ chuyển nhượng Thửa đất 530-538 nhưng thực tế việc thỏa thuận số tiền giữa họ ra sao D4 không biết. Về sau D4 mới biết Phạm Ngọc A - Giám đốc Công ty N là em ruột của H; còn liên quan với L2, P ra sao không rõ. Ông D4 đã nhận số tiền
chuyển nhượng các thửa đất trên của L2 là 25.000.000.000 đồng, của P là 140.000.000.000 đồng.
- Ông  Lê Vĩ L2 khai: Phạm Thị Lan H có mối quan hệ chị dâu em chồng với L2. Ngày 26/8/2017, H nhờ L2 thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng với Phan Tiến D4 Thửa đất 530-538, tiền thực hiện chuyển nhượng một phần do phía Công ty N thanh toán, một phần Công ty N tạm ứng của L2. Sau đó, L2 thỏa thuận 03 bên với D4, Nguyễn Thị Lệ P (H thỏa thuận với P vay mượn và cùng thực hiện việc chuyển nhượng, chỉ định P đứng tên sau khi chuyển nhượng). Về việc cùng nhau thực hiện hợp đồng. L2 đã bỏ ra số tiền liên quan việc chuyển nhượng các thửa đất với D4 khoảng 10.000.000.000 đồng (do H mượn thay Công ty N và đã hoàn tạm ứng trả lại L2 còn khoảng 8.000.000.000 đồng), còn lại Công ty N dùng tiền của khách hàng chuyển tiền giữ chỗ mua đất nền các thửa đất trên với Công ty và L2 đã thay Công ty N chuyển số tiền đó cho D4 theo đó L2 là 25.000.000.000 đồng và P là 140.000.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Lệ P khai: do Công ty N không có đủ tiền chuyển nhượng, H đại diện Công ty N có thỏa thuận vay mượn tiền của Nguyễn Thị Lệ P để tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng các Thửa đất tại 530-538, trong thời hạn thỏa thuận sẽ hoàn trả lại. P đồng ý và đề nghị được đứng tên liên quan việc chuyển nhượng với L2, D4. Tổng cộng, P đã chuyển cho D4 số tiền 140.000.000.000 đồng, sau đó P được ông D4 công chứng sang tên theo thỏa thuận. Nguồn tiền thực hiện việc chuyển nhượng P đi vay để thực hiện. Sau đó, ngày 06/02/2018, P chuyển nhượng 09 thửa đất trên lại cho Trần Vĩnh P3; Nơi cư trú: A B, phường B, quận B vì Công ty N không thực hiện cam kết trả lại số tiền Phương đã ứng ra thực hiện việc chuyển nhượng với L2 và D4.
- Bị cáo Phạm Thị Lan H khai nhận: Công ty N do Phạm Ngọc A làm Giám đốc là em ruột của H. H có nhiều mối quan hệ xã hội nên có hỗ trợ cho việc kinh doanh của Phạm Ngọc A. H nhờ Âu Lê Vĩ L2 bỏ tiền và đứng ra thực hiện việc chuyển nhượng, thanh toán thửa đất trên với Phan Tiến D4 thay Công ty N. Sau đó, H liên hệ Nguyễn Thị Lệ P mượn và cùng thực hiện việc chuyển nhượng như nêu trên. Tổng cộng số tiền thực tế chuyển nhượng các thửa đất đã bỏ ra gồm, Luân chuyển 25.000.000.000 đồng (trong đó có tiền của Công ty, L2 và các khách hàng chuyển tiền mua đất nền); P chuyển là 140.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi thực hiện việc chuyển nhượng xong, P chưa hoàn trả số tiền 25.000.000.000 đồng lại cho L2 và Công ty N.
- Bị cáo Phạm Ngọc A khai nhận: mặc dù Phạm Ngọc A đứng tên Giám đốc và người đại diện pháp luật của Công ty N nhưng Ngọc A không thường xuyên có mặt tại Công ty. Mọi việc do Phạm Thị Lan H điều hành, quản lý. Liên quan các hợp đồng Công ty N đại diện Nguyễn Long P2 - Giám đốc kinh doanh ký với các khách hàng là do H yêu cầu Ngọc A ủy quyền lại cho P2 thay mặt ký hợp đồng, giấy xác nhận và các phụ lục liên quan với khách hàng của dự án đất nền tên gọi H2 tại các thửa đất trên. Nhân viên Công ty đều do H trực tiếp tuyển dụng, bố trí công việc và chỉ đạo điều hành mọi hoạt động Công ty. Đối với Tài khoản 0019100006118009 mở tại Ngân hàng O (OCB-CN Nguyễn Thái B) của Công ty
N do Ngọc A đăng ký mở và đứng tên chủ tài khoản. Việc khách hàng chuyển tiền vào tài khoản trên để mua các nền đất, Ngọc A ủy quyền cho H việc thay Ngọc Al sử dụng tài khoản trên để chuyển khoản và rút tiền mặt thực hiện các giao dịch liên quan, còn sử dụng ra sao Ngọc Al không rõ.
Đối với dự án đất nền tên gọi H2: năm 2017, H thông báo Công ty N đang triển khai dự án đất nền ở phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và Phạm Ngọc A có ký hợp đồng hợp tác số 01/2017 ngày 26/8/2017 với Âu Lê Vĩ L2 theo yêu cầu của H. Theo đó, nội dung hợp đồng là ông L2 (bên B) và Ngọc A (bên A) đại diện Công ty N thực hiện hợp tác việc kinh doanh bán đất nền của ông L2 là người nắm giữ hợp pháp quyền sử dụng lô đất tại phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và bên A là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và muốn hợp tác triển khai chuyển nhượng lô đất của bên B nên thỏa thuận hợp tác kinh doanh như sau:
- - Sau khi hoàn tất giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng Lô đất, Bên B ủy quyền giao cho bên A quyền chuyển nhượng lại lô đất thuộc quyền sử dụng bên B.
- - Bên A và bên B sẽ cùng nhau thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định pháp luật để tách thửa lô đất thành nhiều thửa đất nhằm phục vụ cho chuyển nhượng lô đất cho những đối tượng được phép.
Sau này, Ngọc A biết Công ty N và ông L2 cùng bỏ ra một số tiền để thực hiện việc chuyển nhượng với chủ các Thửa đất 530-538. Liên quan việc ký kết, Công ty N đại diện Nguyễn Long P2 - Giám đốc kinh doanh đã ký và nhận tiền của các khách hàng mua một số nền đất thông qua tài khoản Ngân hàng O chi nhánh N2 do Ngọc A đăng ký mở với vai trò Giám đốc Công ty N trong quá trình thực hiện chuyển nhượng với chủ đất, còn thực tế việc nhận và sử dụng số tiền này ra sao Ngọc A không rõ.
Các cá nhân có đơn tố cáo, khai: toàn bộ nội dung sự việc như nêu trên và tự nguyện giao nộp hồ sơ liên quan gồm Sơ đồ phân lô đất, kèm diện tích từng lô nhỏ; Các hợp đồng hợp tác, thỏa thuận đặt cọc, Phụ lục hợp đồng, phiếu giữ chỗ để phục vụ công tác giám định liên quan Công ty N trên Hợp đồng và yêu cầu được nhận lại số tiền đã bị chiếm đoạt.
Việc sử dụng số tiền của khách hàng (bị hại) sau khi chiếm đoạt:
Căn cứ các tài liệu chứng từ và sao kê các tài khoản liên quan trong vụ án, Cơ quan Điều tra xác định số tiền đã nhận của khách hàng được các bị cáo sử dụng như sau:
Thanh toán đặt cọc chuyển nhượng mua thửa đất của ông Nguyễn Huy Đ1 tại G đường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (thực hiện việc lập dự án C) tổng cộng 12.3000.0000.000 đồng. Ngoài ra đặt cọc 3.000.000.000 đồng để mua thửa đất tại đường N, thành phố Cần Thơ (sao kê, chứng từ của Ngân hàng N3 chi nhánh S2 ngày 27/4/2018). Công ty N đã chuyển các số tiền này theo thoả thuận nhưng sau đó không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nên ông Đ1 không hoàn trả lại tổng cộng số tiền 15.300.000.000 đồng.
- - Thanh toán tạm ứng cho ông Phạm Hữu Q 3.500.000.000 đồng để làm dịch vụ pháp lý thực hiện việc giải quyết tranh chấp dân sự cho Công ty N do Phạm Thị Lan H đại diện theo Hợp đồng số 05HĐ-DVPL/2018 ngày 12/5/2018;
- - Thanh toán đặt cọc cho ông Đỗ Minh Q1 và Đỗ Quang S mua thửa đất tại số G đường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (giáp với thửa đất thực hiện việc lập dự án Civitas Linh Đ3) số tiền 1.000.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc đề ngày 23/4/2018. Tuy nhiên, Công ty N không đủ tài chính để tiếp tục thực hiện mua thửa đất nên giữa ông S và Phạm Ngọc A có thỏa thuận không tiếp tục thực hiện, thanh lý hợp đồng đề ngày 06/4/2019 với nội dung hoàn trả lại cho Công ty N số tiền là 300.000.000 đồng, số tiền còn lại 700.000.000 đồng ông S được quyền hưởng theo thỏa thuận;
- - Số tiền còn lại, một phần được rút tiền mặt để sử dụng chi phí vào các hoạt động Công ty và các đối tượng sử dụng vào mục đích cá nhân, không có tài liệu, chứng từ xác minh cụ thể.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật;
- - Số tiền 25.000.000.000 đồng do Nguyễn Thị Lệ P giao nộp vào tài khoản của Cơ quan Điều tra;
- - Số tiền 124.500.000 đồng do Phạm Thị Lan H tự nguyện giao nộp vào tài khoản của Cơ quan Điều tra để khắc phục hậu quả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm
2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lan H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2023.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2022.
Áp dụng khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc các bị cáo Phạm Thị Lan H và Phạm Ngọc A liên đới bồi thường cho các bị hại, số tiền cụ thể như sau:
- 1. Ông Đào Quang D1 số tiền 1.890.190.109 (một tỷ tám trăm chín mươi triệu một trăm chín mươi ngàn một trăm lẻ chín) đồng;
- 2. Ông Lê Ngọc D2 số tiền 5.104.000.000 (năm tỷ một trăm lẻ bốn triệu) đồng;
- 3.Vợ chồng ông Dương Quang V và bà Trần Công Nhất U số tiền 3.057.202.000 (ba tỷ không trăm năm mươi bảy triệu hai trăm lẻ hai ngàn) đồng;
- 4. Ông Lê Duy K số tiền 4.278.000.000 (bốn tỷ hai trăm bảy mươi tám triệu) đồng;
- 5. Bà Nguyễn Thị Thanh H1 số tiền 5.673.600.000 (năm tỷ sáu trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm ngàn) đồng;
- 6. Bà Dương Thị Cẩm M1 số tiền 4.289.664.829 (bốn tỷ hai trăm tám mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi bốn ngàn tám trăm hai mươi chín) đồng;
- 7. Ông Huỳnh Vĩnh X số tiền 12.363.006.415 (mười hai tỷ ba trăm sáu mươi ba triệu không trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm mười lăm) đồng.
- Buộc: Ông Nguyễn Huy Đ1 giao nộp số tiền 15.300.000.000 (mười lăm tỷ ba trăm triệu) đồng; ông Đỗ Minh Q1 và ông Đỗ Quang S giao nộp số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng; ông Phạm Hữu Q giao nộp số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng để hoàn trả cho các bị hại và được khấu trừ vào số tiền các bị cáo Phạm Thị Lan H, Phạm Ngọc A phải bồi thường cho các bị hại như trên.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo Phạm Thị Lan H, Phạm Ngọc A, ông Nguyễn Huy Đ1, Đỗ Minh Q1 và ông Đỗ Quang S, ông Phạm Hữu Q chưa thực hiện hết khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 124.500.000 (một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn) đồng do Phạm Thị Lan H tự nguyện giao nộp và số tiền 25.000.000.000 (hai mươi lăm tỷ) đồng do Nguyễn Thị Lệ P giao nộp tại Cơ quan Điều tra là tài sản của bị cáo Phạm Thị Lan H để thi hành án cho các bị hại (nếu còn dư thì trả lại cho bị cáo H). (Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.9058778.00000 của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu – Công an T mở tại kho bạc Nhà nước Chi nhánh T5).
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Phạm Ngọc A, Phạm Thị Lan H không kháng cáo.
- Ngày 23/01/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lệ P có đơn kháng cáo không đồng ý với Bản án sơ thẩm về tuyên tiếp tục tạm giữ số tiền 25.000.000.000 đồng do Nguyễn Thị Lệ P giao nộp.
- - Ngày 30/01/2024 người bị hại Huỳnh Vĩnh X có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu được nhận lại tiền bị chiếm đoạt từ khoản tiền 25.000.000.000 đồng mà cơ quan điều tra đang tạm giữ.
- - Ngày 31/01/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Huy Đ1 có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm buộc ông nộp lại số tiền 15.300.000.000 đồng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên nghĩa vụ dân sự của ông bằng một vụ án dân sự khác.
- - Ngày 01/02/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Âu Lê Vĩ L2 có đơn kháng cáo đề nghị nhận lại số tiền 8.000.000.000 đồng mà cơ quan điều tra đang tạm giữ trong khoản 25.000.000.000 đồng mà cơ quan điều tra tạm giữ.
- Ngày 02/02/2024 những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Minh Q1, Đỗ Quang S có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên buộc giao nộp lại số tiền 700.000.000 đồng.
- - Ngày 03/02/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hữu Q có đơn kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm không buộc ông giao nộp số tiền 3.500.000.000 đồng mà buộc bị cáo Phạm Thị Lan H phải trả khoản tiền này.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lệ P, Phạm Hữu Q, Âu Lê Vĩ L2 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt bà P, ông Q theo luật định.
Bị cáo Phạm Thị Lan H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết, bị cáo thừa nhận đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại, do đó bị cáo không kháng cáo. Bị cáo thừa nhận đã lấy tiền chiếm đoạt của các bị hại để đặt cọc mua đất và trả tiền dịch vụ pháp lý.
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo như nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai nhận của các bị cáo đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Ngọc A, Phạm Thị Lan H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ đúng pháp luật. Các bị cáo không kháng cáo nên phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã có hiệu lực pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo có trách nhiệm hoàn trả lại cho các bị hại là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với các khoản tiền mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải giao nộp lại để hoàn trả cho những người bị hại là đúng vì đây là khoản tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại để đặt cọc mua đất và trả dịch vụ pháp lý. Đối với kháng cáo của ông L2 thì Tòa án cấp sơ thẩm đã tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị Lệ P và Âu Lê Vĩ L2 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà P và ông L2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Lệ P, ông  Lê Vĩ L2 và ông Phạm Hữu Q vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hồi đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Quá trình điều tra đã chứng minh được Phạm Thị Lan H, Phạm Ngọc A dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác, cụ thể từ giữa năm 2017 đến tháng 4 năm 2018, Phạm Thị Lan H, Phạm Ngọc A đã liên hệ với các chủ đất thỏa thuận chuyển nhượng, rồi tự đặt tên Dự án Civitas Linh Đ3 tại phường L (quận T cũ) thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và Dự án H - T tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, rồi tự lập bản vẽ phân lô các thửa đất tại vị trí tương ứng với dự án (tự đặt tên) nêu trên thành nhiều nền đất có diện tích khác nhau, dưới dạng đất nền thổ cư dự án; ký hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới với Công ty M2, ủy quyền cho Nguyễn Long P2 làm môi giới bán nền đất, ký hợp đồng hợp tác đầu tư với khách hàng (bị hại) để nhận tiền. Phạm Ngọc A, Phạm Thị Lan H sử dụng pháp nhân Công ty N (do H thành lập trực tiếp điều hành hoạt động) ký hợp đồng thỏa thuận đặt mua đất nền, hợp đồng hợp tác đầu tư với các khách hàng tại các dự án trên và đã có 07 cá nhân tin tưởng những thông tin nêu trên là thật nên giao kết hợp đồng, chuyển tiền vào tài khoản của Công ty N và của Phạm Ngọc A. Các bị cáo đã chiếm đoạt của 07 bị hại với tổng số tiền 37.855.663.353 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc A, Phạm Thị Lan H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Các bị cáo không có kháng cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị hại Huỳnh Vĩnh X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lệ P và Âu Lê Vĩ L2:
[3.1] Đối với dự án mang tên H2; Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập được các tài liệu, chứng cứ, sao kê các tài khoản Ngân hàng O (O) Chi nhánh N2 của Công ty N xác định số tiền đặt cọc (tiền mặt) và thanh toán chuyển khoản của 03 khách hàng gồm Huỳnh Vĩnh X, Nguyễn Thanh H1 và Dương Thị Cẩm M1 được chuyển vào tài khoản Ngân hàng nêu trên do Phạm Ngọc A làm chủ sở hữu tài khoản trong thời gian từ tháng 12/2017 đến tháng 01/2018, số tiền bị chiếm đoạt là 22.326.271.244 đồng, trong đó Huỳnh Vĩnh X bị chiếm đoạt 12.363.006.415 đồng; Dương Thị Cẩm M1 bị chiếm đoạt 4.289.664.829 đồng và Nguyễn Thanh H1 bị chiếm đoạt 5.673.600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác định được các bị cáo Phạm Ngọc A và Phạm Thị Lan H đã sử dụng số tiền nêu trên chi phí vào các hoạt động công ty (Tiền lương nhân viên, thuê mặt bằng...) hoàn trả lại tiền cho khách hàng, một phần dùng để thanh toán tiền cho chủ đất.
[3.2] Đối với khoản tiền 25.000.000.000 đồng mà Nguyễn Thị Lê P4 giao nộp cho cơ quan điều tra thì đây là khoản tiền trong tổng số tiền 165.000.000.000 đồng P4 chuyển nhượng lại 09 thửa đất cho Trần Vĩnh P3, trong khi P4 mới bỏ ra số tiền 140.000.000.000 đồng để cùng bị cáo Lan H nhận chuyển nhượng đất của ông Phan Tiến D4. Do đó, Nguyễn Thị Lệ P kháng cáo xin nhận số tiền này là không có cơ sở chấp nhận.
[3.3] Quá trình điều tra Âu Lê Vĩ L2 cho rằng bị cáo Lan H mượn L2 10.000.000.000 đồng (mượn thay cho công ty N) để nhận chuyển nhượng đất của Phan Tiến D4, đã hoàn trả lại một phần, hiện còn khoảng 8.000.000.000 đồng, do đó L2 kháng cáo yêu cầu được nhận lại khoảng 8.000.000.000 đồng này trong khoản tiền 25.000.000.000 đồng mà cơ quan điều tra đang tạm giữ. Xét nội dung kháng cáo này của Âu Lê Vĩ L2 là không có căn cứ chấp nhận bởi lẽ quá trình điều tra L2 xác định việc vay mượn tiền giữa H và L2 chỉ bằng miệng, không có giấy tờ chứng minh, hơn nữa giao dịch hợp tác làm ăn giữa L2 và bị cáo H đã được Tòa án cấp sơ thẩm tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có tranh chấp.
[3.4] Xét khoản tiền 25.000.000.000 đồng mà cơ quan điều tra đang tạm giữ là liên quan trực tiếp đến số tiền mà các bị cáo chiếm đoạt của Huỳnh Vĩnh X, Nguyễn Thị Thanh H1 và Dương Thị Cẩm M1 trong dự án mang tên Heart Land T, vì vậy cần khấu trừ khoản tiền này để hoàn trả lại cho 03 bị hại nêu trên. Do đó kháng cáo của ông Huỳnh Vĩnh X là có căn cứ chấp nhận. Đối với Nguyễn Thị Thanh H1, Dương Thị Cẩm M1 tuy không có kháng cáo nhưng xét quyền lợi của hai bị hại này cũng tương tự như của ông Huỳnh Vĩnh X, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 345 Bộ luật tố tụng hình sự xem xét phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M1, bà H1.
Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H có trách nhiệm chuyển khoản tiền 25.000.000.000 đồng nêu trên sang cơ quan thi hành án dân sự Thành phố H để hoàn trả lại cho 03 bị hại nêu trên.
[4] Xét kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Huy Đ1, Đỗ Minh Q1, Đỗ Quang S và Phạm Hữu Q, thấy rằng:
Căn cứ các tài liệu chứng từ và sao kê các tài khoản liên quan trong vụ án, Cơ quan Điều tra xác định số tiền đã nhận của khách hàng được các bị cáo sử dụng như sau: Thanh toán đặt cọc chuyển nhượng mua thửa đất của ông Nguyễn Huy Đ1 tại G đường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (thực hiện việc lập dự án C) tổng cộng 12.300.000.000 đồng. Ngoài ra đặt cọc 3.000.000.000 đồng để mua thửa đất tại đường N, thành phố Cần Thơ (sao kê, chứng từ của Ngân hàng N3 chi nhánh S2 ngày 27/4/2018). Công ty N đã chuyển các số tiền này theo thoả thuận nhưng sau đó không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nên ông Đ1 không hoàn trả lại tổng cộng số tiền 15.300.000.000 đồng. Thanh toán tạm ứng cho ông Phạm Hữu Q 3.500.000.000 đồng để làm dịch vụ pháp lý thực hiện việc giải quyết tranh chấp dân sự cho Công ty N do Phạm Thị Lan H đại diện theo Hợp đồng số 05HD-DVPL/2018 ngày 12/5/2018. Thanh toán đặt cọc cho ông Đỗ Minh Q1 và Đỗ Quang S mua thửa đất tại số G đường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (giáp với thửa đất thực hiện việc lập dự án Civitas Linh Đ3) số tiền 1.000.000.000
đồng theo Hợp đồng đặt cọc đề ngày 23/4/2018. Tuy nhiên, Công ty N không đủ tài chính để tiếp tục thực hiện mua thửa đất nên giữa ông S và Phạm Ngọc A có thỏa thuận không tiếp tục thực hiện, thanh lý hợp đồng đề ngày 06/4/2019 với nội dung hoàn trả lại cho Công ty N số tiền là 300.000.000 đồng, số tiền còn lại 700.000.000 đồng ông S được quyền hưởng theo thỏa thuận.
Như vậy, các khoản tiền mà các bị cáo chuyển cho các ông Nguyễn Huy Đ1, Phạm Hữu Q, Đỗ Minh Q1, Đỗ Quang S đều là tiền do các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc những người này phải giao nộp lại các khoản tiền nêu trên để trả cho bị hại là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lệ P, Âu Lê Vĩ L2, Nguyễn Huy Đ1, Phạm Hữu Q, Đỗ Minh Q1 và Đỗ Quang S. Chấp nhận kháng cáo của bị hại Huỳnh Vĩnh X, sửa một phần Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự (lên quan đến các bị hại Huỳnh Vĩnh X, Nguyễn Thị Thanh H1, Dương Thị Cẩm M1) và xử lý vật chứng.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị hại Huỳnh Vĩnh X không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lệ P, Âu Lê Vĩ L2, Nguyễn Huy Đ1, Phạm Hữu Q, Đỗ Minh Q1 và Đỗ Quang S phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lệ P, Âu Lê Vĩ L2, Nguyễn Huy Đ1, Phạm Hữu Q, Đỗ Minh Q1 và Đỗ Quang S.
Chấp nhận kháng cáo của bị hại Huỳnh Vĩnh X, sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
Căn cứ Điều 47 khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc các bị cáo Phạm Thị Lan H và Phạm Ngọc A liên đới bồi thường cho các bị hại, số tiền cụ thể như sau:
- Ông Huỳnh Vĩnh X số tiền 12.363.006.415 (mười hai tỷ ba trăm sáu mươi ba triệu không trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm mười lăm) đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H1 số tiền 5.673.600.000 (năm tỷ sáu trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm ngàn) đồng;
- Bà Dương Thị Cẩm M1 số tiền 4.289.664.829 (bốn tỷ hai trăm tám mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi bốn ngàn tám trăm hai mươi chín) đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 124.500.000 (một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn) đồng do Phạm Thị Lan H tự nguyện giao nộp và số tiền 25.000.000.000 (hai mươi lăm tỷ) đồng do Nguyễn Thị Lệ P giao nộp tại Cơ quan Điều tra là tài sản của bị cáo Phạm Thị Lan H. (Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.9058778.00000 của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu – Công an T mở tại kho bạc Nhà nước Chi nhánh T5).
Khấu trừ số tiền 124.500.000 đồng và 25.000.000.000 đồng nêu trên để hoàn trả cho ông Huỳnh Vĩnh X số tiền 12.363.006.415; Bà Nguyễn Thị Thanh H1 số tiền 5.673.600.000 đồng; Bà Dương Thị Cẩm M1 số tiền 4.289.664.829 đồng. (số tiền còn dư thì trả lại cho bị cáo H).
Buộc: Ông Nguyễn Huy Đ1 giao nộp số tiền 15.300.000.000 (mười lăm tỷ ba trăm triệu) đồng; ông Đỗ Minh Q1 và ông Đỗ Quang S giao nộp số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng; ông Phạm Hữu Q giao nộp số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng để hoàn trả cho các bị hại Đào Quang D1, Lê Ngọc D2, vợ chồng ông Dương Quang V và bà Trần Công Nhất U; ông Lê Duy K và được khấu trừ vào số tiền các bị cáo Phạm Thị Lan H, Phạm Ngọc A phải bồi thường cho các bị hại này (số tiền còn dư thì trả lại cho bị cáo H).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo Phạm Thị Lan H, Phạm Ngọc A, ông Nguyễn Huy Đ1, Đỗ Minh Q1 và ông Đỗ Quang S, ông Phạm Hữu Q chưa thực hiện hết khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Vĩnh X không phải chịu, hoàn trả cho ông Huỳnh Vĩnh X 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai số 0031798 ngày 31/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông bà Nguyễn Thị Lệ P, Âu Lê Vĩ L2, Nguyễn Huy Đ1, Đỗ Minh Q1, Đỗ Quang S, Phạm Hữu Q phải chịu mỗi người 300.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thẩm các ông bà đã nộp tại các biên lai thu tiền số 0031796 (bà P) ngày 31/01/2024; số 0031844 (ông L2) ngày 02/02/2024; số 0031915 (ông Đ1) ngày 06/02/2024; số 0031914 (ông Q1, ông S) ngày 06/02/2024; số 0031929 (ông Q) ngày 20/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh vào phần án phí phải chịu.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
Bản án số 533/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 533/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Chấp nhận kháng cáo của bị hại Huỳnh Vĩnh Xương, sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
