Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/DS-PT

Ngày: 26-02-2025

V/v Tranh chấp yêu cầu hủy hợp

đồng tặng cho quyền sử dụng đất

và đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.

Các Thẩm phán: Bà Dương Thúy Hằng;

Bà Phạm Thị Thùy Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 702/2024/TLPT-DS, ngày 20-11-2024, về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2024/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 793/2024/QĐ-PT, ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi ngày xét xử số: 50/TB-DS, ngày 20-01-2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1940; cư trú tại: số nhà B, đường G, khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Chị Võ Hướng D, sinh năm 1993; cư trú tại: Khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 07-11-2024; có mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm 1970; cư trú tại: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh T:

  • + Ông Trần Văn H1, sinh năm 1963; cư trú tại: Khu phố E, Phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 13-12-2024; có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; cư trú tại: Khu phố D, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 30-12-2024; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Võ Thị T1, sinh năm 1964; cư trú tại: Khu phố P, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Chị Võ Thị M, sinh năm 1968; có đơn xin vắng mặt.
  3. Anh Võ Minh P, sinh năm 1972; có đơn xin vắng mặt.
  4. Chị Võ Thị Q, sinh năm 1973; có đơn xin vắng mặt
  5. Cùng cư trú tại: Khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

  6. Chị Võ Thị H2, sinh năm 1966; cư trú tại: Khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  7. Chị Nguyễn Thị Bé H3, sinh năm 1973; cư trú tại: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  8. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm: 1968; ; cư trú tại: số nhà B, đường G, khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Anh Võ Minh T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 03-4-2024 và Đơn thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 15-7-2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án - nguyên đơn ông Võ Văn H trình bày:

Vợ ông là bà Nguyễn Thị M1 (đã chết năm 2012). Ông và bà M1 có tất cả 06 người con gồm: Võ Thị T1, Võ Thị H2, Võ Thị M, Võ Minh P, Võ Thị Q, Võ Minh T.

Trước đây, khoảng năm 2010, vợ chồng ông kêu các con về và họp mặt gia đình để chia đất cho các con, lúc này có mặt đầy đủ các con nhưng không có mặt anh T, khi chia đất không lập văn bản, chỉ nói miệng với nhau, việc chia đất cụ thể như sau:

Chia theo mặt tiền đường 782 thì Võ Thị Q, Võ Thị T1, Võ Thị H2, Võ Thị M, mỗi người được chia 04m ngang đất x dài khoảng 40m; Võ Minh P, Võ Minh T, mỗi người được chia phần đất ngang 09m, dài khoảng 40m, phần đất còn lại 05m ngang, dài khoảng 40m (làm đất hương quả); phần đất ngang khoảng 12m (mặt sau), dài 40m (dùng làm nhà mồ), tính theo mặt tiền đường đất; các phần đất này đều tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Năm 2015, ông và các con thống nhất giao cho anh T phần đất được chia 9m ngang, phần 05m ngang (phần hương quả), dài 40m; 12m ngang (mặt sau), dài 40m (dùng làm nhà mồ) và căn nhà trên đất, nên đến Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Tây Ninh để làm thủ tục tặng cho anh T tổng cộng là 14m ngang (mặt trước), dài 40m và 12m ngang (mặt sau), dài 40m; anh T có trách nhiệm thờ cúng ông bà, cha mẹ và phụng dưỡng ông đến cuối đời, mỗi tháng phải gửi cho ông 3.000.000 đồng để tiêu xài, điều kiện tặng cho chỉ nói miệng với nhau, không lập thành văn bản nhưng các con trong gia đình đều biết và thống nhất. Sau đó, anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.163,6m², thửa 102, tờ bản đồ 29; tọa lạc: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; đất có nguồn gốc là của ông và bà M1 nhận chuyển nhượng của bà N, không nhớ nhận chuyển nhượng vào năm nào.

Sau khi được tặng cho, anh T có thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, hàng tháng anh T có đưa cho ông từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng để tiêu xài và chi tiền để lo cúng giỗ nhưng từ tháng 11-2023 cho đến nay, anh T không thực hiện nghĩa vụ cúng giỗ và phụng dưỡng cho ông.

Từ khi cho đến nay, ông vẫn sử dụng đất và nhà trên đất, ngoài phần đất này ra ông không còn phần đất nào khác để sinh sống và ông không có nguồn thu nhập nào khác.

Trước đây khoảng năm 2009 ông và vợ là bà Nguyễn Thị M1 (đã chết năm 2012) có gửi số tiền 400.000.000 đồng vào sổ tiết kiệm, không kỳ hạn do ông đứng tên mở tại Ngân hàng A chi nhánh huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Khi vợ ông bệnh thì ông có rút ra số tiền 100.000.000 đồng để lo cho vợ, số tiền còn lại 300.000.000 đồng anh T mượn đỡ để làm ăn. Do đó, khoảng năm 2016 ông đã làm thủ tục ủy quyền cho anh T rút số tiền 200.000.000 đồng trong sổ tiết kiệm, ông rút tiền mặt giao cho anh T 100.000.000 đồng tại nhà ông, khi giao không ghi biên nhận và không ai chứng kiến. Sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 10 chỉ là của vợ ông để lại, khi mua có giấy tờ nhưng do đã lâu nên không còn. Khi bà M1 chết thì ông giao cho chị Q giữ, sau đó chị Q giao lại cho anh T giữ.

Nay anh T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Do đó, ông yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông và anh T đối với diện tích đất 1.163,6m², thửa 102, tờ bản đồ 29; tọa lạc: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; buộc anh T làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả lại diện tích đất này, căn nhà trên đất cho ông và yêu cầu anh T trả lại số tiền 300.000.000 đồng, 01 sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 10 chỉ, ông không yêu cầu tính lãi suất và không yêu cầu vợ anh T là chị Bé H3 cùng trả.

Trường hợp anh T đồng ý trả lại diện tích đất trên cho ông thì ông đồng ý tặng cho anh T diện tích đất trống còn lại (tính theo mặt tiền đường G) là khoảng 05m ngang x dài 40m.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Minh T trình bày:

Anh là con ruột của ông H. Phần đất hiện đang tranh chấp có diện tích 1.163,6m², thửa 102, tờ bản đồ 29; tọa lạc: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc là của mẹ anh là bà Nguyễn Thị M1 (đã chết năm 2012) để lại. Ngày 27-4-2015, cha anh (ông H) và các anh, chị, em trong gia đình thống nhất lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất trên và giao ông H toàn quyền sử dụng diện tích đất, mục đích để ông H làm thủ tục tặng cho anh quyền sử dụng đất trên, cùng ngày 27-4-2015 ông H đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để tặng cho anh đối với diện tích 1.163,6m² trên và anh đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09854 ngày 04-6-2015. Việc tặng cho không có điều kiện gì nhưng với trách nhiệm là một người con nên anh tự nhận trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng ông H và thờ cúng ông bà, cha mẹ.

Trước đây, vào năm 2010, cha mẹ họp mặt gia đình và có nói miệng chia đất cho các con, những người con gái gồm: Quí, T1, H2, M, mỗi người được chia 04m ngang đất, dài 40m, P được chia 09m ngang đất, dài 40m, phần đất còn lại thống nhất tặng cho anh nhưng thời điểm này, do anh đi làm ăn xa nên chưa làm thủ tục tách thửa, sang tên. Đến năm 2015, ông H và các chị, em thống nhất giao lại cho anh được quyền sử dụng diện tích đất 1.163,6m² trên, ông H cho rằng năm 2010 chia cho anh 09m ngang đất là không đúng.

Anh không có mượn số tiền 300.000.000 đồng của ông H, anh không cất giữ 01 sợi dây chuyền 24K trọng lượng 10 chỉ như ông H trình bày. Trước đây, em gái anh là Võ Thị Q có giao cho anh sợ dây chuyền vàng 24K, trọng lượng 3 chỉ, đây là dây chuyền của mẹ anh nhưng khi ông H bị bệnh anh đã bán sợ dây chuyền này để chăm lo cho ông H, hiện không còn.

Nay anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H vì đất này ông H và các chị, em trong gia đình đã thống nhất tặng cho anh và anh cũng đã làm tròn nghĩa vụ phụng dưỡng của con cái đối với cha mẹ và thờ cúng ông bà, mẹ. Trên đất có nhà của cha mẹ nên anh muốn giữ lại phần đất này để xây dựng nhà thờ, ai không có nơi ở thì cứ về ở. Anh không đồng ý nhận 05m ngang x dài 40m như ý kiến của ông H.

Anh không có mượn số tiền 300.000.000 đồng của ông H nên anh không đồng ý trả theo yêu cầu của ông H, sợi dây chuyền 24K trọng lượng 3 chỉ hiện không còn nên không đồng ý trả lại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị M trình bày:

Chị là con ruột của ông H, là chị ruột của anh T. Khoảng năm 2010, cha mẹ họp mặt gia đình, lúc này có mặt đầy đủ các chị, em, chỉ không có mặt anh T và có nói miệng chia đất cho các con, việc tặng cho không có điều kiện gì, những người con gái gồm: Quí, T1, H2, M, mỗi người được chia 04m ngang đất, dài 40m, P được chia 09m ngang đất, dài 40m, phần đất còn lại có nhà thống nhất tặng cho anh T. Năm 2015, gia đình đã thống nhất làm thủ tục giao cho anh T được quyền sử dụng diện tích đất này và anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.163,6m².

Sau khi được tặng cho đất, anh T có cấp dưỡng cho ông H nhưng cấp dưỡng bao nhiêu thì chị không biết, khoảng tháng 3,4-2024 anh T có đưa cho chị 02 lần, lần đầu 3.000.000 đồng, lần sau 2.000.000 đồng nhờ giao lại cho ông H và chị đã giao số tiền này cho ông H.

Trước đây cha mẹ chị có gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng số tiền 700.000.000 đồng, số tiền này ông H sử dụng vào mục đích gì thì chị không biết, có cho anh T mượn hay không thì chị không biết, sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 10 chỉ là của mẹ chị, khi mẹ chị chết thì giao chị Q cất giữ, khoảng năm 2017 chị Q đã giao lại sợi dây chuyền này cho anh T, khi giao các anh chị em trong gia đình đều biết.

Nay chị thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông H và thống nhất với ý kiến của ông H tặng cho lại anh T diện tích đất trống còn lại (tính theo mặt tiền đường G) là 05m ngang x dài 40m.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Minh P trình bày:

Anh là con ruột của ông H, là em ruột của anh T. Khoảng năm 2010, cha mẹ họp mặt gia đình, lúc này có mặt đầy đủ các chị, em, chỉ không có mặt anh T và có nói miệng chia đất cho các con, việc tặng cho không có điều kiện gì, những người con gái gồm: Quí, T1, H2, M, mỗi người được chia 04m ngang đất, dài 40m, P được chia 09m ngang đất, dài 40m, phần đất còn lại có nhà thống nhất tặng cho anh T. Năm 2015, gia đình đã thống nhất làm thủ tục giao cho anh T được quyền sử dụng diện tích đất này và anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.163,6m². Sau khi được tặng cho đất, anh T có cấp dưỡng cho ông H hay không thì anh không biết nhưng anh T có lo cúng giỗ ông bà, bà M1.

Ông H có cho anh T mượn số tiền 300.000.000 đồng hay không thì anh không biết; sợi dây chuyền vàng 24K là của mẹ anh, trọng lượng bao nhiêu thì anh không biết, khi mẹ anh chết thì giao chị Q cất giữ, sau đó khoảng năm 2017 chị Q đã giao lại sợi dây chuyền này cho anh T, khi giao các chị, em trong gia đình đều biết.

Nay anh thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông H và thống nhất với ý kiến của ông H tặng cho lại anh T diện tích đất trống còn lại (tính theo mặt tiền đường G) là 05m ngang x dài 40m.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Q trình bày:

Chị là con ruột của ông H, là em ruột của anh T, chị thống nhất theo lời trình bày của chị M. Khoảng năm 2010, cha mẹ họp mặt gia đình, lúc này có mặt đầy đủ các chị, em, chỉ không có mặt anh T và có nói miệng chia đất cho các con, việc tặng cho không có điều kiện gì, những người con gái gồm: Quí, T1, H2, M, mỗi người được chia 04m ngang đất, dài 40m, P được chia 09m ngang đất, dài 40m, phần đất còn lại có nhà thống nhất tặng cho anh T và anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.163,6m². Sau khi được tặng cho đất, anh T có cấp dưỡng cho ông H và lo cúng giỗ ông bà, bà M1 nhưng cấp dưỡng bao nhiêu thì chị không biết.

Trước đây, cha mẹ chị có gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng, số tiền gửi bao nhiêu thì chị không biết, số tiền này cha mẹ chị sử dụng vào mục đích gì thì chị không biết, có cho anh T mượn hay không thì chị không biết, sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 10 chỉ là của mẹ chị, khi mẹ chị chết thì giao cho chị cất giữ, khoảng năm 2017 chị ra sống riêng nên đã giao lại sợi dây chuyền này cho anh T, khi giao các chị, em trong gia đình đều biết, có vợ anh T chứng kiến, ngoài ra không ai chứng kiến.

Nay chị thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông H và thống nhất với ý kiến của ông H tặng cho lại anh T diện tích đất trống còn lại (tính theo mặt tiền đường G) là 05m ngang x dài 40m.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị H2 trình bày:

Chị là con ruột của ông H, là chị ruột của anh T, chị thống nhất theo lời trình bày của anh T. Phần đất có diện tích 1.163,6m² trên và căn nhà trên đất gia đình đã thống nhất tặng cho anh T và việc tặng cho không có điều kiện gì nên không đồng ý hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo yêu cầu của ông H.

Ông H có cho anh T mượn 300.000.000 đồng hay không thì chị không biết; lúc mẹ chị còn sống thì có sợi dây chuyền vàng 24K, trọng lượng bao nhiêu thì chị không biết, chị nghe anh T nói lại: sau khi mẹ chết thì giao chị Q cất giữ, sau đó chị Q có giao lại cho anh T.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì chị không đồng ý vì phần đất diện tích 1.163,6m² trên ông H và các chị, em trong gia đình đã thống nhất tặng cho anh T và anh T cũng đã làm tròn trách nhiệm của một người con, thờ cúng ông bà và mẹ chị, hàng tháng anh T đều gửi tiền cho ông H tiêu xài, chăm lo cho ông H lúc ốm đau. Mặt khác, những người con khác trong gia đình đều được cha mẹ tặng cho đất nên phần đất này đã thống nhất tặng cho anh T thì anh T được quyền sử dụng. Chị không đồng ý với ý kiến của ông H tặng cho anh T 05m ngang x dài 40m.

Đối với yêu cầu trả lại số tiền 300.000.000 đồng và 01 sợi dây chuyền vàng 24k trọng lượng 10 chỉ thì chị không có ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị T1 trình bày:

Chị là con ruột của ông H, là chị ruột của anh T, chị thống nhất theo lời trình bày của anh T, chị H2. Chị không đồng ý hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 1.163,6m² trên theo yêu cầu của ông H, đối với yêu cầu trả lại số tiền 300.000.000 đồng và 01 sợi dây chuyền vàng 24k trọng lượng 10 chỉ thì chị không có ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bé H3 trình bày:

Chị là vợ của anh T, là con dâu của ông H. Chị thống nhất theo lời trình bày của anh T.

Các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc, định giá tài sản.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2024/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tràng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 147, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 457, 459, 462 Bộ luật Dân sự; các Điều 167, 168, 188, 203 Luật Đất đai; các Điều 12, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H đối với anh Võ Minh T về việc hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

1.1. Hủy một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 27-4-2015, số chứng thực 197, Quyển số 01 TP/CT-SCTT/HĐGD tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Tây Ninh được ký kết giữa ông Võ Văn H với anh Võ Minh T đối với phần đất diện tích 936,6m² (diện tích theo sơ đồ chỉnh lý là 681,4m²), loại đất ODT 300m² + LUK, trong thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên.

1.2. Ông Võ Văn H được quyền tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 936,6m² (diện tích theo sơ đồ chỉnh lý là 681,4m²), loại đất ODT 300m² + LUK, trong thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên. Đất có tứ cận như sau:

Đông giáp đường nhựa 782 dài 09m; Tây giáp thửa 88 dài 41,63m + 02m; Nam giáp thửa 106 dài 39,24m + 4,66m, giáp thửa 87 dài 4,55m + 6,11m + 3,77m, giáp thửa 105 dài 6,82m, giáp thửa 104 dài 04m, giáp thửa 103 dài 04m, giáp đường đất dài 8,81m; Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 102 (phần tặng cho anh T) dài 35,93m + 05m + 1,82m, giáp đường nhựa dài 10,25m. (Có sơ đồ kèm theo)

1.3. Ghi nhận ông Võ Văn H tự nguyện tặng cho anh Võ Minh T phần đất diện tích 227m² (175m² + 52m²) trong tổng diện tích 1.163,6m² (diện tích theo sơ đồ chỉnh lý là 908,4m²), trong thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), loại đất ODT 100m² + LUK 127m², tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

1.4. Công nhận cho anh Võ Minh T được quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 227m² (175m² + 52m²), trong thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), loại đất ODT 100m² + LUK 127m², tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên. Đất có tứ cận như sau:

Đông giáp đường nhựa 782 dài 05m + 0,88m; Tây giáp phần đất còn lại của thửa 102 dài 05m + 1,82m, Nam giáp phần đất còn lại của thửa 102 dài 35,93m; Bắc giáp đường nhựa 34,69m. (có sơ đồ kèm theo)

1.5. Ghi nhận ông Võ Văn H tự nguyện di dời các tài sản gồm: hàng rào lưới B40, chân xây tô, diện tích 1,5m x 39,88m; 01 mái che sân trước, lợp tole, nền gạch tàu, diện tích (2,6m x 16,9m) + (2,4m x 4,3m); 01 mái che (trước phòng tạm), lợp tole, nền gạch men, cột xây tô có diện tích 2,4m x 12,6m; 01 phòng tạm xây tô có diện tích 2,4m x 4,4m; 01 nhà bếp (nhỏ) có diện tích 3,05m x 4,7m; 01 phần nhà bếp (lớn), lợp tole, nền gạch tàu, tường xây không tô, diện tích 2,4m x 3,4m; 01 phần nhà vệ sinh xây tô, nền gạch men diện tích 0,24m x 2,58m; 01 phần mái che (nhà sau), lợp tole, nền xi măng, khung cây, diện tích 1,2m x 02m ra khỏi phần đất diện tích 227m² (175m² + 52m²), trong thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), loại đất ODT 100m² + LUK 127m², tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đã được công nhận cho anh Võ Minh T.

1.6. Anh Võ Minh T được quyền sở hữu 01 mương thoát nước diện tích 52m² trên phần đất diện tích 227m², trong thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận ông Võ Văn H, anh Võ Minh T không tranh chấp đối với tài sản trên đất.

2. Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên để cấp cho ông Võ Văn H và anh Võ Minh T theo Quyết định của bản án.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H đối với anh Võ Minh T về tranh chấp đòi lại tài sản là số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 10 chỉ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24-10-2024, bị đơn anh Võ Minh T kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh Võ Minh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn- ông Trần Văn H1, trình bày bổ sung các căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo:

Nguồn gốc đất do vợ chồng ông H, bà M1 tạo lập. Khi bà M1 còn sống, từ năm 2020 ông H, bà M1 đã có di nguyện giữ lại căn nhà thờ cúng ông bà, nên đã lựa chọn anh T là người được thừa hưởng, chăm lo, thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra, tất cả những người con khác của ông H, bà M1 đều được phân chia quyền sử dụng đất liền kề.

Đến năm 2015, sau khi thỏa thuận về tài sản và di sản thừa kế, ông H đã làm hợp đồng tặng cho anh T toàn bộ thửa đất số 102, tờ bản đồ 29, phần đất tọa lạc tại tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Trong hợp đồng không ghi bất cứ điều kiện nào.

Từ sau khi được tặng cho tài sản, với trách nhiệm và nghĩa vụ của người con, anh T đã chăm sóc, nuôi dưỡng ông H; hàng tháng đều gửi tiền cấp dưỡng cho ông H ít nhất 3.000.000 đồng và lo toàn bộ các chi phí cúng giỗ ông, bà và cúng giỗ bà M1 hàng năm.

Nên có căn cứ xác định hợp đồng tặng cho không có điều kiện và đã có hiệu lực pháp luật, anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông H và anh T là không đúng quy định của pháp luật. Giả sử cho rằng hợp đồng tặng cho có điều kiện thì anh T cũng không vi phạm điều kiện, vì thực tế tất cả các anh, chị em; kể cả ông H cũng thừa nhận anh T cho tiền ông H hàng tháng và đều lo chi phí cúng giỗ hàng năm.

Tại phiên tòa, anh T đồng ý để ông H ở trên Nhà đất cho đến cuối đời; tiếp tục cấp dưỡng cho ông H mỗi tháng và lo toàn bộ mọi chi phí cúng giỗ như trước đây. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nhận yêu cầu kháng cáo của anh T; sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.

Người đại diện theo ủy quyền của anh T- bà Nguyễn Thị L thống nhất với ý kiến của ông H1; trình bày bổ sung một số vấn đề để Hội đồng xét xử xem xét:

Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông H và anh T được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối và cũng thuận theo di nguyện của bà M1 từ năm 2021 và thỏa thuận phân chia di sản; hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật trong hợp đồng không có ghi điều kiện tặng cho, nhưng anh T đã tự nguyện chăm sóc, cấp dưỡng cho ông H hàng tháng và cúng giỗ cho ông bà hàng năm (được tất cả mọi người kể cả ông H đều xác nhận). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, chị Võ Hướng D không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Võ Minh T; sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H; buộc anh T trả lại phần đất tranh chấp phần còn lại sau khi tách ra 9 mét ngang (phần không có nhà) cho ông H; anh T được sử dụng phần đất 9 mét ngang; ghi nhận ông H, bà Á được sống tại căn nhà trên diện tích đất đã giao cho anh T cho đến cuối đời ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24-10-2024, bị đơn anh Võ Minh T có đơn kháng cáo. Qua xem xét, Đơn kháng cáo của anh T trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Võ Văn H là chị Võ Hướng D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn anh Võ Minh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn anh Võ Minh T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Thực hiện theo Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất giữa ông H cùng các con là anh P, chị Q, chị T1, anh T, chị H2, chị M. Ngày 27-4-2015, ông Võ Văn H có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1.163,6m², thuộc thửa 102, tờ bản đồ 29, tọa lạc khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho anh Võ Minh T. Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, ngày 04-6-2015 anh Võ Minh T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3.2] Việc tặng cho quyền sử dụng đất không thể hiện có điều kiện trong hợp đồng. Tuy nhiên, trên thực tế ông H tặng cho quyền sử dụng đất cho anh T nhiều hơn những người con khác tại cùng thời điểm, như anh P được cho 9m ngang x dài 40m; chị Q, chị T1, chị H2, chị M (04 người con gái) mỗi người được cho 4m ngang dài khoảng 40m; thì anh T được tặng cho ngang 15m dài hết đất cùng với phần đất thổ mộ phía sau ngang 12m; tổng diện tích 1.163,6m².

[3.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, tất các các đương sự đều xác nhận: Từ khi được tặng cho đất, hàng tháng anh T đều cấp dưỡng cho ông H số tiền từ 3.000.000 (ba triệu) đồng trở lên để ông H sinh sống, chi phí; đồng thời anh T cũng thực hiện nghĩa vụ cúng giỗ ông, bà và cúng giỗ mẹ (là bà M1). Ông H hiện vẫn sinh sống tại nhà, đất này và chi phí ăn uống, sinh hoạt chủ yếu nhờ vào tiền cấp dưỡng của anh T. Chỉ từ năm 2023 đến nay anh T không cấp dưỡng cho ông H, không lo cúng giỗ ông bà; nên ông H mới khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với anh T.

Từ đó, có cở sở xác định rằng: Mặc dù trong hợp đồng tặng cho không ghi điều kiện, nhưng xét tổng thể hoàn cảnh cho thấy điều kiện thực sự tồn tại trên thực tế. Phần diện tích đất cho thêm ngoài diện tích đất ông H tặng cho những người con khác, chính là lợi ích vật chất anh T được hưởng đi kèm theo điều kiện chăm sóc, phụng dưỡng ông H và cúng giỗ hàng năm cho ông bà.

[3.4] Toà án cấp sơ thẩm nhận định việc tặng cho QSDĐ của ông H đối với anh T là hợp đồng tặng cho có điều kiện, anh T đã vi phạm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng ông H; cúng giỗ từ năm 2023; nên đã chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ của ông H đối với anh T là có cơ sở. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ, toàn diện nội dung, tính chất của vụ án. Bởi lẽ: Điều kiện tặng cho của ông H đối với anh T chính là việc anh T được tặng cho diện tích đất nhiều hơn những người con khác của ông H, nên phải có trách nhiệm cấp dưỡng và cúng giỗ hàng năm.

Do đó, khi anh T vi phạm điều kiện tặng cho thì chỉ có thể huỷ 01 phần hợp đồng tặng cho đối với phần diện tích đất ngang 5m, dài hết đất và phần đất thổ mộ phía sau, ngang 12 mét (có ngôi mộ của bà M1) là có có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với Án lệ số 14/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H có nguyện vọng được tiếp tục sinh sống trên nhà đất, để chăm lo việc thờ cúng và chăm sóc mộ phần của bà M1 phía sau nhà. Tại phiên toà, anh T cũng thống nhất nếu Toà án giao phần đất có nhà lại cho anh thì anh T đồng ý để cho cha (ông H) tiếp tục sinh sống cho đến cuối đời. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Riêng bà Nguyễn Thị Á là vợ sau hợp pháp của ông H (nhưng không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến phần đất tranh chấp); anh T cũng đồng ý cho bà Á được tiếp tục sống trên nhà đất cùng với ông H cho đến cuối đời của ông H, thì bà Á tự di dời đi nơi khác, giao nhà, đất lại cho anh T mà không phải bồi thường hay hỗ trợ gì.

[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Võ Minh T, về việc hủy một phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông H với anh T; sửa bản án sơ thẩm; theo hướng:

- Võ Văn H được quyền tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 856,40m²(bao gồm: 175m² phần đất 5m ngang mặt tiền đường 782 và 681,4m² phần đất phía sau có ngôi mộ); trong đó: loại đất ONT là 150m² + 706,40 m² đất LUK, thuộc một phần thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên.

Ông H được quyền sở hữu 01 mương thoát nước diện tích 52m² (liền kề diện tích đất 175m²), thuộc một phần thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh

- Anh Võ Minh T được quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 342,90m²; thuộc một phần thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005); trong đó loại đất ONT là 250m² + 92,90m² đất LUK; tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Võ Minh T đứng tên.

- Ghi nhận ông Võ Văn H và anh Võ Minh T không tranh chấp đối với tài sản trên đất.

Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên để cấp cho ông Võ Văn H và anh Võ Minh T theo Quyết định của bản án.

[6] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông H là người cao tuổi, được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên anh T không phải chịu án phí phúc thẩm.

[9] Chi phí tố tụng khác: Các bên phải chịu chi phí đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ; tổng cộng là 4.115.000 đồng. Trong đó ông H phải chịu 1.115.000 (Một triệu một trăm mười lăm nghìn) đồng; ghi nhận ông Võ Văn H đã nộp xong; anh Võ Minh T phải chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng, ghi nhận anh T đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự

- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Võ Minh T

- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2024/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

Tuyên xử:

Căn cứ vào các Điều 147, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 457, 459, 462 Bộ luật Dân sự; các Điều 167, 168, 188, 203 Luật Đất đai;

Căn cứ Án lệ số 14/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H đối với anh Võ Minh T, về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

1.1. Hủy một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 27-4-2015, số chứng thực 197, Quyển số 01 TP/CT-SCTT/HĐGD tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Tây Ninh được ký kết giữa ông Võ Văn H với anh Võ Minh T đối với phần đất diện tích 1.163,6m² (đo đạc thực tế 1.251,30m²), loại đất ONT 400m² + LUK, thuộc thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Võ Minh T đứng tên.

1.2. Ông Võ Văn H được quyền sử dụng phần đất diện tích 856,40m² (bao gồm: 175m² phần đất 5m ngang mặt tiền đường 782 và 681,4m² phần đất phía sau có ngôi mộ); trong đó: loại đất ONT là 150m² + 706,40 m² đất LUK, thuộc một phần thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Võ Minh T đứng tên.

Ông H được quyền sở hữu 01 mương thoát nước diện tích 52m² (liền kề diện tích đất 175m²), thuộc một phần thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh

Tổng phần đất ông H được giao là 908,40m²; có tứ cận như sau:

Đông giáp đường nhựa 782 dài 05m + 0,88m;

Tây giáp thửa 88 dài 41,63m + 2,00m;

Nam giáp thửa đất của anh T sau khi tách ra dài 35,93m và giáp đường đất dài 8,81m

Bắc giáp đường nhựa dài 34,69m +10,25m

(Có sơ đồ kèm theo)

1.3. Anh Võ Minh T được quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 342,90m²; thuộc một phần thửa 102, tờ bản đồ số 29 (BĐ 2005); trong đó loại đất ONT là 250m² + 92,90m² đất LUK; tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có căn nhà cấp 4; tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên. Đất có tứ cận như sau:

Đông giáp đường nhựa 782 dài 09m;

Tây giáp một phần thửa đất 102 của ông H sau khi tách ra dài 09m

Nam giáp thửa 106 dài 39,24m

Bắc giáp thửa đất ông H sau khi tách ra dài 35,93m

(Có sơ đồ kèm theo)

1.4. Ghi nhận ông Võ Văn H và anh Võ Minh T không tranh chấp đối với tài sản trên đất.

2. Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 066084, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS09854 ngày 04-6-2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp anh Võ Minh T đứng tên, để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn H và anh Võ Minh T theo Quyết định của bản án.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H đối với anh Võ Minh T về tranh chấp đòi lại tài sản đối với số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 10 chỉ.

4. Ghi nhận anh T đồng ý để cho ông H tiếp tục sinh sống trên nhà đất của anh T cho đến cuối đời. Riêng bà Nguyễn Thị Á là vợ sau hợp pháp của ông H (không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến phần đất tranh chấp); anh T cũng đồng ý cho bà Á được tiếp tục sống trên nhà đất cùng với ông H cho đến cuối đời của ông H, thì bà Á tự di dời đi nơi khác, giao nhà, đất lại cho anh T mà không phải bồi thường hay hỗ trợ gì.

5. Về chi phí tố tụng: Các bên phải chịu chi phí đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ; tổng cộng là 4.115.000 đồng. Trong đó ông H phải chịu 1.115.000 (Một triệu một trăm mười lăm nghìn) đồng; ghi nhận ông Võ Văn H đã nộp xong; anh Võ Minh T phải chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng, ghi nhận anh T đã nộp xong.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Anh Võ Minh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ông Võ Văn H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho anh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000627, ngày 24-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND TX Trảng Bàng;
  • - CCTHADS TX Trảng Bàng;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP TAND tỉnh;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản.

  • Số bản án: 89/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger