|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 532/2023/HSST Ngày: 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Hương Thủy
- 2. Bà Nguyễn Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị H – Kiểm sát viên
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Văn Q - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 504/2023/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 575/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991; Tại: Hậu Giang; Nơi đăng ký HKTT: 64/94/6/1 đường L, tổ A, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 5 T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Anh T1; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1, Sinh năm: 1964; Vợ: Vũ Ngọc Thanh T2, Sinh năm:1990; Có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/5/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2009; Ngày 22/12/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 2 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 01/6/2011; Ngày 17/01/2020 đến ngày 13/3/2020, bị đưa đi cai nghiện tại cơ sở xã hội N; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Bà Trần Thị T3, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: 8 đường A, khu phố D, tổ D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: G P, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Bà Lâm Thị Cẩm H2 (vắng mặt)
Địa chỉ: 6 P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 07/5/2023, Công an phường T, thành phố T tiến hành tuần tra đến trước địa chỉ số C Quốc lộ A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 69F9-3320 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Nguyễn Hoàng T không có giấy tờ tùy thân, có dấu hiệu sử dụng ma túy, nên tổ tuần tra mời Trương về trụ sở làm việc. Test ma túy Nguyễn Hoàng T dương tính với heroin. Qua làm việc, Nguyễn Hoàng T khai nhận đã thực hiện một vụ trộm cắp tài sản vào ngày 07/4/2023 tại địa bàn phường T. Cụ thể như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/4/2023, T điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 69F9-3320 vào quán cơm tấm địa chỉ ở số F, T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua cơm. T nói với bà Trần Thị T3 (là chủ quán cơm) bán cho T 04 hộp cơm, bà T3 để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax 256Gb màu xanh trên tấm kính tầng 2 của xe bán cơm rồi làm cơm cho T. Lúc này, Trương quan sát thấy bà T3 đang quay lưng lại và không để ý đến điện thoại nên nảy sinh ý định lấy trộm. Trương với tay lấy điện thoại di động Iphone 12 promax màu xanh bỏ vào túi quần rồi lên xe mô tô bỏ đi. Bà T3 đang làm cơm nghe tiếng nổ máy xe mô tô, nghĩ là Trương quay đầu xe nên tiếp tục làm cơm. Khi bà T3 quay lại thì không thấy T, kiểm tra không thấy điện thoại di động Iphone 12 promax đâu nên biết là T đã lấy trộm. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên đến cửa hàng điện thoại di động S ở địa chỉ số G, Phạm Văn C, khu phố D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn S làm chủ bán điện thoại di động trên được số tiền 3.500.000 đồng. Tất cả tiền bán điện thoại T đã tiêu xài cá nhân hết. Do bận công việc, bà T3 không đến Công an phường T để trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave 110 biển số 69F9 – 3320.
- - 01 nón bảo hiểm và 01 áo thun ngắn tay.
- - 01 điện thoại di động hiệu N1 TA1010.
- - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, 256Gb.
- - 01 giấy mua bán xe mô tô hiệu Wave biển số 69F9-3320 và 01 thẻ nhớ camera 64Gb.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 174-KV3/KLÐG-HDĐGTS ngày 11/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, 256Gb có giá trị là 6.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm phần dân sự: Bà T3 đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu nào khác; ông Nguyễn Văn S không yêu cầu T phải bồi thường số tiền đã mua điện thoại.
Cáo trạng số 464/CT-VKSTP.TĐ ngày 13/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
Đối với vật chứng của vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoàng T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/4/2023, Nguyễn Hoàng T đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, 256Gb có giá trị là 6.000.000 đồng của bà Trần Thị T3 tại địa chỉ: F, T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Là đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Nguyễn Hoàng T biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái vi phạm pháp luật, tuy nhiên do tham lam nên bị cáo bất chấp cố ý thực hiện. Hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo Nguyễn Hoàng T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ngoài ra bị cáo Nguyễn Hoàng T từng bị Tòa án kết án về tội Phá Hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia và tội Cướp giật tài sản tuy nhiên không lấy đó làm bài học nay tiếp tục phạm tội thể hiện tính coi thường pháp luật do đó cần có một hình phạt nghiêm. Tuy nhiên, cũng xét, trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản được thu hồi trả lại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave 110 biển số 69F9 - 3320; số khung: RMMWCH4MM51- 400275; số máy: VDP1P52F - MH400275. Qua xác minh, xe do chị Lâm Thị Cẩm H2 đứng tên chủ sở hữu, chị H2 đã bán lại xe mô tô trên cho cửa hàng X. Nguyễn Hoàng T mua lại xe trên làm phương tiện đi lại. Ngày 07/5/2023 bị cáo sử dụng xe trên làm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào quy định pháp luật tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 nón bảo hiểm và 01 áo thun ngắn tay màu vàng Trương mặc vào ngày 07/4/2023 khi đi lấy trộm tài sản. Căn cứ vào quy định pháp luật tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA1010 của Nguyễn Hoàng T không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ vào quy định pháp luật trả lại điện thoại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Trương .
- 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, 256Gb là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bà Trần Thị T3 là có căn cứ.
- 01 giấy mua bán xe mô tô hiệu Wave biển số 69F9-3320 và 01 thẻ nhớ camera 64Gb ghi lại hình ảnh tại cửa hàng Đ ở địa chỉ số G, Phạm Văn C, khu phố D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, được lưu trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà T3 đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu nào khác; ông Nguyễn Văn S không yêu cầu T phải bồi thường số tiền đã mua điện thoại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave 110 biển số 69F9 - 3320; số khung: RMMWCH4MM51- 400275; số máy: VDP1P52F - MH400275.
Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm và 01 áo thun ngắn tay màu vàng.
Trả lại: 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA1010 cho bị cáo Nguyễn Hoàng Trương .
(Theo phiếu nhập kho số NK23/302C ngày 21/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
Tiếp tục lưu hồ sơ: 01 giấy mua bán xe mô tô hiệu Wave biển số 69F9-3320 và 01 thẻ nhớ camera 64Gb.
4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Trương c 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 532/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 532/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
