Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 532/2024/DS-ST

Ngày: 22/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quản;

2. Bà Nguyễn Thị Thuý Hoa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Cán bộ Toà án nhân dân Quận 12

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 459/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 871/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 07 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 1105/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là S1);

Địa chỉ trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lã Ngọc M – Có đơn xin xét xử vắng mặt;

Địa chỉ: Lầu E, B N, Phường V, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 3027/2023/UQ-TGĐ ngày 08/9/2023).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Q, sinh năm 1981 - Vắng mặt;

Địa chỉ: B Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, có ông Lã Ngọc M là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 07/08/2019, bàNguyễn Thị Thu Q1 có ký với S1 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà Q1, S1 đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 472075-2285 với hạn mức sử dụng là 150.000.000(một trăm năm mươi triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, bà Q1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nên ngày 23/08/2022 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 174.194.301 (một trăm bảy mươi bốn triệu một trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm lẻ một) đồng sang làm nợ gốc và tính lãi hàng tháng trên dư nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng x 150%= 3,9%/tháng lãi quá hạn).

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Q1 yêu cầu thanh toán ngay khoản nợ quá hạn. Đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà Q1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, S1 yêu cầu Tòa án: Buộc bàQuỳnh phải trả ngay số tiền nợ thẻ tín dụng tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 339.731.444 (ba trăm ba mươi chín triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi bốn) đồng, bao gồm nợ gốc 174.194.301 (một trăm bảy mươi bốn triệu một trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm lẻ một) đồng, lãi quá hạn là 165.537.143 (một trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi ba) đồng. Ngoài ra, bàcó trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn nhưng bàNguyễn Thị Thu Quỳnh liên tục vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được bất kỳ văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của bàQuỳnh đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nguyễn Thị Thu Q: Vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án thụ lý vụ án từ ngày 09/10/2023 nhưng đến nay mới đưa ra xét xử là không đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Q phải trả tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A thì bà Nguyễn Thị Thu Q không còn cư ngụ tại địa chỉ B Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, tại thời điểm ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 07/08/2019 bà Q đã xác định địa chỉ hiện tại là 227/3A1 Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. S1 không biết địa chỉ nào khác của bị đơn, nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, có cơ sở xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn mà người khởi kiện biết được gần nhất, tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân Tối cao thì việc bà Q thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đã ký mà không thông báo cho S1 biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 được coi là cố tình giấu địa chỉ, nên xác định bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ B Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thầm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh,

[1.2]. Về sự có mặt của đương sự:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Điều này thể hiện bị đơn không hợp tác với Tòa án, làm cho vụ án bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn đã tự tước bỏ quyền được trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về chứng cứ: Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Do đó, Tòa án giải quyết vụ kiện theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Yêu cầu trả nợ theo Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 07/8/2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bà Nguyễn Thị Thu Q:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng thì bà Q đã được S1 mở Thẻ tín dụng số thẻ 472075-2285 với hạn mức sử dụng là 150.000.000(một trăm năm mươi triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

S1 là pháp nhân được quyền ký kết các hợp đồng tín dụng theo giấy phép đăng ký kinh doanh. Bà Nguyễn Thị Thu QS1 giao kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Hợp đồng được lập thành văn bản và có chữ ký của các bên. Căn cứ theo quy định tại các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các thỏa thuận.

Trong quá trình sử dụng thẻ, do bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 23/08/2022 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn thành tiền gốc là 174.194.301 (một trăm bảy mươi bốn triệu một trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm lẻ một) đồng. Theo Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1.

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy việc thỏa thuận lãi 2.6%/tháng và lãi quá hạn là 150% lãi theo Hợp đồng giữa S1 và bà Q là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật.

Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Q thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đối với số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 339.731.444 (ba trăm ba mươi chín triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi bốn) đồng, bao gồm nợ gốc 174.194.301 (một trăm bảy mươi bốn triệu một trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm lẻ một) đồng, lãi quá hạn là 165.537.143 (một trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi ba) đồng.

Ngoài ra, phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký giữa các bên.

[4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S không phải chịu án phí. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu Q phải thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền gốc và lãi còn nợ, theo Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 07/8/2019 tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 339.731.444 (ba trăm ba mươi chín triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi bốn) đồng, bao gồm nợ gốc 174.194.301 (một trăm bảy mươi bốn triệu một trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm lẻ một) đồng, lãi quá hạn là 165.537.143 (một trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi ba) đồng.

Kể từ ngày 23/8/2024 bà Nguyễn Thị Thu Q tiếp tục thanh toán lãi cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 07/8/2019.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm là 16.986.572 (mười sáu triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm bảy mươi hai) đồng do bà Nguyễn Thị Thu Q chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền tạm ứng án phí là: 6.500.500 (sáu triệu năm trăm nghìn năm trăm) đồng, theo biên lai thu tiền án phí lệ phí Tòa án số 0030629 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 12
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Minh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 532/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 532/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐTD
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger