Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 532/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/5/2024.

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

2/ Ông Võ Văn Dương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có: Bà Lê Thị Trúc P – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1187/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 163/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/4/2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm: 1978. (có mặt)
  • Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 01/11/2022.
  • Bị đơn: Ông Lương Minh T, sinh năm 1974; (vắng mặt)
  • Căn cước công dân số: [...].
  • Cùng thường trú: ấp C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
  • Cùng ngụ địa chỉ: số A đường N, tổ E, khu phố A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy V trình bày:

Bà và ông Lương Minh T tìm hiểu nhau thời gian khoảng 01 năm, thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, cưới nhau năm 2004, đến năm 2012 mới đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu sống ở tỉnh Sóc Trăng, đến năm 2022 lên huyện C sống, hai vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không có tiếng nói chung, vì con nên bà cam chịu, gần đây ông T lại thêm việc gái gú nên hai vợ chồng thường xuyên cải vả, lúc thì ở C, lúc thì bỏ về tỉnh Sóc Trăng. Bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lương Minh T.

Về con chung: có 02 con chung tên Lương Thị Thùy T1, sinh ngày 01/01/2000 (đã trưởng thành) và Lương Gia B, sinh ngày 03/8/2012. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung là trẻ B và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Chứng minh nhân dân + Sổ hộ khẩu, khai sinh con (sao y) + giấy chứng nhận kết hôn.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, không thay đổi hay bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu ý kiến:

Về Tố tụng: Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà V được ly hôn với ông T; Con chung: bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Lương Gia B, sinh ngày 03/8/2012; Tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: không có; Về án phí bà V phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn C, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông T vẫn không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

[2] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy V và ông Lương Minh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 172/2012, ngày 02/11/2012 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà V xin ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà V thì mâu thuẩn giữa bà với ông T là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và gần đây ông T lại sinh tật gái gú,.... Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà V và ông T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 02 con chung tên Lương Thị Thùy T1, sinh ngày 01/01/2000 (đã trưởng thành) và Lương Gia B, sinh ngày 03/8/2012. Bà V yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung là trẻ B. Hiện trẻ B đang ở với bà V và Trẻ B1 cũng có lời khai thể hiện nguyện vọng muốn ở với mẹ, nếu ba mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung là trẻ B1 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ dân sự chung: Bà V xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở nên chấp nhận.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
  • - Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy V được ly hôn với ông Lương Minh T.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số 172/2012, ngày 02/11/2012 của UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà V và ông T không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: có 02 con chung tên Lương Thị Thùy T1, sinh ngày 01/01/2000 (đã trưởng thành) và Lương Gia B, sinh ngày 03/8/2012. Bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là trẻ Lương Gia B, sinh ngày 03/8/2012. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V là không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
  4. Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông T.

  5. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Nghĩa vụ dân sự chung: không có.
  7. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thị Thùy V phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/0018375 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (12b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 532/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 532/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger