Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 532/2025/HS-PT

Ngày: 16/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thành Trung

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Lê Na

Bà Chử Phương Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn K, Ngô Xuân T do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Bị cáo kháng cáo:

1. Lê Văn K - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1977; Nơi sinh: Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lê Văn D và bà: Lý Thị B; vợ: Đỗ Thị H (đã ly hôn); có 02 con: con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 361 ngày 28/6/2024 do Công an huyện G lập và lý lịch bị can thì bị cáo có 01 tiền án: Ngày 30/11/2021, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 07 tháng tù về tội: Làm nhục người khác; bị cáo chưa chấp hành án). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/6/2024; có mặt.

2. Ngô Xuân T - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1976; nơi sinh: Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Ngô Văn C và bà: Nguyễn Thị M; vợ: Nguyễn Thị T1; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân. Ngày 31/8/2000, Công an huyện C, Lạng Sơn xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 22/12/1997, Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 24/5/2001, Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Tiền án và tiền sự trên của bị cáo đã đương nhiên được xóa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/8/2024; có mặt.

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1954; Nơi cư trú: thôn G, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  2. Nguyễn Đạo Đ, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số B hẻm E thôn E, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Khắc H1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Số B hẻm E thôn E, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  5. Anh Nguyễn Bá T2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số B mặt đường thôn E, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Thạch Văn Q, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
  2. Anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ A, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
  3. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
  4. Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn I, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  5. Chị Ngô Thị B2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
  6. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội; có mặt;
  7. Ông Hùng Văn H3, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
  8. Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Xuân T:

Ông Phạm Gia L, luật sư Văn phòng L2, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Xuân T làm công việc thu mua sắt vụn thanh lý và nhận tháo dỡ các công trình khung sắt, mái tôn. Để thực hiện công việc tháo dỡ công trình khung sắt, mái tôn, Ngô Xuân T thuê Lê Văn K cùng làm với hình thức công việc thời vụ, khi có việc thì T thuê K làm, trả công 600.000 đồng/ngày, cả hai chỉ thoả thuận miệng, không ký kết hợp đồng lao động. Ngày 20/02/2024, chị Nguyễn Thị Thu H2 có nhu cầu tháo dỡ căn nhà số B mặt đường T, xã N. Căn nhà này có đặc điểm được xây dựng 04 tầng, kết cấu khung sắt, mái tôn, sàn lát gỗ ép, vách trước và sau nhà xây gạch lên 6m, còn lại gắn tôn lên đến mái nhà, hai bên nhà dùng nhờ vách của hai nhà bên cạnh. Chị H2 thuê chị Ngô Thị B2 để tháo dỡ. Do chị B2 biết vợ chồng Ngô Xuân T làm công việc tháo dỡ nên chị B2 liên hệ với chị Nguyễn Thị T1 (là vợ của Ngô Xuân T) để thuê tháo dỡ công trình nhà chị H2. Chị T1 đã báo lại chồng là Ngô Xuân T, T đồng ý nhận công việc với mức giá 3.500.000 đồng. Sau đó, T liên hệ thuê K đi làm cùng, trả công theo ngày. Toàn bộ việc tháo dỡ nhà chị H2 do T và K thực hiện, ngoài ra không có ai khác tham gia.

Sáng ngày 21/02/0224, T điều khiển xe tải loại 1,4 tấn BKS: 29H-681.76 của T chở đồ dùng, dụng cụ gồm máy bắn vít cầm tay, kìm, búa, xà cầy, dây thừng, bộ dụng cụ cắt hơi bằng khí gas-oxy gồm 01 bình gas 02 bình oxy, hệ thống dây, van, đồng hồ gas-oxy, mỏ cắt đến nhà chị H2. Tại đây, T tổ chức thực hiện, phân công công việc cho K, K có nhiệm vụ sử dụng dụng cụ cắt hơi bằng khí gas-oxy tạo nguồn nhiệt để cắt các thanh kim loại. Quá trình cắt các thanh sắt bằng dụng cụ cắt hơi bằng khí gas-oxy có tạo ra các muội sắt bắn ra xung quanh thành các tia sáng trong phạm vi từ 1-2m. Cả K và T đều không qua đào tạo, không có chứng chỉ hành nghề liên quan đến công việc hàn cắt kim loại bằng khí, không có biện pháp gì để đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy, không sử dụng đồ vật gì để che chắn xung quanh vị trí cắt. Sau khi cắt được một số thanh sắt và tháo dỡ được các tấm tôn lợp trên mái nhà tầng 4 xong thì K và T cùng tháo dỡ tấm tôn phía sau nhà (tấm tôn được gắn từ sàn tầng 3 đến mái nhà tầng 4). K và T dùng dây thừng buộc một đầu vào tấm tôn để giữ, sau đó K trèo lên mái tầng 4 cắt các thanh sắt gắn ở hai góc tấm tôn (hai góc trên cùng, phía sau nhà). Sau khi cắt các thanh sắt ở hai góc trên, K trèo xuống dưới sàn tầng 4 để tiếp tục cắt các mối hàn giữa tấm tôn với sàn tầng 4, còn T đứng ở sàn tầng 4 cầm dây thừng để kéo tấm tôn vào phía trong nhà. Tuy nhiên, khi Kiên định cắt tiếp thì thấy hết khí oxy, T bảo K xuống xe tải lấy bình oxy khác vào thay. Trong khi K lấy bình oxy từ trên xe tải xuống thì anh Đàm Duy L1 gọi, báo phát hiện có khói bốc lên trên mái tôn qua khe cửa tại dãy nhà kho số B hẻm E thuộc thôn E xã N, G. Lúc này, K nghi xảy ra cháy nên gọi báo cho Ngô Xuân T đang cùng làm việc tháo dỡ mái tôn gần đó biết và hô hoán mọi người xung quanh chữa cháy. Sau đó, Lê Văn K cùng một số người dân xung quanh tìm cách phá khóa cửa gian nhà kho đầu tiên của dãy nhà 27 hẻm E để chữa cháy. Ngô Xuân T vào gian nhà ở giữa, đẩy số hàng quần áo ở trong ra ngoài để tránh bị cháy lan ra. Sau khi mở được cửa gian nhà đầu tiên, thấy lửa bốc cháy bên trong, Lê Văn K cùng một số người tìm cách dập lửa. Khoảng 30 phút sau thì lực lượng phòng cháy chữa cháy đến chữa cháy và dập tắt được đám cháy.nên K quay lại báo cho T biết, sau đó K và T cùng người dân xung quanh tìm cách chữa cháy.

Hậu quả:

Vụ cháy xảy ra gây thiệt hại tài sản cho 08 người. Cụ thể: vụ cháy xảy ra trên thửa đất của ông Nguyễn Văn B1 – sinh năm 1954 ở thôn G, N, G là chủ làm hư hỏng 03 gian nhà kho lợp mái tôn của ông B1. Gian nhà này được ông B1 chia làm 03 kho cho 03 người thuê, lần lượt:

  • Gian số 1 cho anh Thạch Văn Q - sinh năm 1980 ở thôn A, N, G thuê chứa quần áo;
  • Gian số 2 cho anh Nguyễn Trọng N - sinh năm 1985 ở tổ A, Y, H, Hà Nội thuê chứa quần áo;
  • Gian số 3 cho anh Nguyễn Đạo Đ - sinh năm 1982 ở thôn C, N, G thuê để chứa quần áo.

Ngoài ra, vụ cháy lan ra 04 nhà xung quanh gồm:

  • Kho của chị Nguyễn Thị T3 - sinh năm 1993 ở thôn H, N, G;
  • Nhà bà Nguyễn Thị C1 - sinh năm 1965 ở số B hẻm E thôn E N, G;
  • Nhà anh Nguyễn Khắc H1 - sinh năm 1986 ở số B hẻm E thôn E N, G, Hà Nội;
  • Nhà anh Nguyễn Bá T2 - sinh năm 1981 ở số 29 mặt đường T, N, G.

Vật chứng thu giữ:

  • 03 USB lưu trữ hình ảnh camera ghi lại ngày 21/2/2024 thu giữ của bà Nguyễn Thị C1, của ông Hùng Văn H3 - sinh năm 1957 ở thôn E, N, G, Hà Nội và của anh Nguyễn Văn H4 - sinh năm 1996 ở thôn E, N, G, Hà Nội.
  • 01 mỏ cắt hơi gas-oxy, dây ga, hệ thống van, đồng hồ gas-oxy thu của Ngô Xuân T bên trong nhà số 27 mặt đường T, xã N, G, Hà Nội.
  • 02 thanh kim loại, đầu mỗi thanh có dấu vết nóng chảy kim loại sáng bóng, thu trên vách tôn tường đông bắc, phía trên tầng 4 nhà số B mặt đường T, xã N, G, Hà Nội.
  • Các hạt kim loại hình cầu màu xám kích thước khác nhau, thu tại vị trí sát tường tây nam cách vách tôn phía tây bắc 0,4m bên trong gian phòng số 3.
  • Sản phẩm cháy thu tại vị trí sát tường phía tây nam cách vách tôn phía tây bắc 0,4m bên trong gian phòng số 3.
  • Các đoạn dây dẫn điện bị cháy một phần lớp vỏ cách điện, trơ lõi đồng nhiều sợi, đứt đoạn, thu tại vị trí sát tường tây nam, bên trong gian phòng số 3.

* Tại Bản kết luận giám định số 1485/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của V - Bộ C2 kết luận: “Điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực sát tường T, cách vách tôn phía T khoảng 0,4m, bên trong gian phòng số 3, nhà số B hẻm E thuộc thôn E, xã N, huyện G, TP Hà Nội.

Nguyên nhân cháy: Do quá trình cắt kim loại bằng khi gas và ô xy bên trong nhà số B mặt đường X đã tạo ra các hạt kim loại có nhiệt độ cao bắn vào vải, quần áo bên trong gian phòng số 3, nhà số B hẻm E gây cháy, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên”.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận:

  • 01 ngôi nhà cấp 4 của gia đình ông Nguyễn Văn B1 có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 21/02/2024 là 308.112.000 đồng
  • 56 cây vải chưa qua sử dụng và 01 bộ giá kệ.... của gia đình ông Nguyễn Đạo Đ có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 21/02/2024 là 303.205.000 đồng.
  • Chi phí sửa chữa 01 ngôi nhà 3 tầng, 01 máy giặt, điều hòa, bình nóng lạnh, quạt trần đã qua sử dụng... của gia đình bà Nguyễn Thị C1 có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 21/02/2024 là 96.965.000 đồng.
  • Chi phí sửa chữa 01 ngôi nhà 3 tầng, 01 cửa gỗ, 02 bộ cửa kính, máy lọc không khi, ti vi, điều hòa đã qua sử dụng.... của anh Nguyễn Khắc H1 có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 21/02/2024 là 67.735.000 đồng.
  • Chi phi sửa chữa 01 ngôi nhà 4 tầng, 01 bộ tay vịn cầu thang, bộ của gỗ lim, bộ vách ngăn, cửa sổ nhôm kính, tủ thờ, quạt bàn, điều hòa, đã qua sử dụng.... của gia đình ông Nguyễn Bá T2 có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 21/02/2024 là 205.859.000 đồng.

Tổng cộng: 981.876.000 đồng.

Đối với những tài sản bị thiệt hại trong kho của anh Thạch Văn Q, anh Nguyễn Trọng N, chị Nguyễn Thị T3 và một phần tài sản của anh Nguyễn Đạo Đ; tất cả những người này đều không cung cấp, không xác định được số lượng, chủng loại, mẫu mã hàng hóa, không xuất trình được hóa đơn của hàng hoá trong kho. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện G đã gửi Yêu cầu định giá tài sản đối với những tài sản bị thiệt hại này đến Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện G. Ngày 15/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G có văn bản phúc đáp: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G không có cơ sở để định giá tài sản theo yêu cầu nêu trên.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 222/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia lâm, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 313; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn K 60 (Sáu mươi) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Buộc bị cáo Lê Văn K phải chấp hành 07 tháng tù về tội: “Làm nhục người khác” theo bản án hình sự sơ thẩm số 340/2021/HSST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, buộc bị cáo phải chấp hành 67 (Sáu mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 313; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 02/12/2024 và 10/12/2024 bị cáo Lê Văn K, Ngô Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn K rút kháng cáo, bị cáo Ngô Xuân T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận rút kháng cáo của bị cáo Lê Văn K. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Xuân T. Giữ nguyên Bản án số 222/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Lê Văn K và Ngô Xuân T là lao động tự do, không qua đào tạo, không có chứng chỉ hành nghề liên quan đến công việc hàn cắt kim loại bằng khí. Ngô Xuân T là người sử dụng lao động, mặc dù T biết K không có chứng chỉ hành nghề liên quan đến công việc hàn cắt kim loại bằng khí nhưng T vẫn thuê K cùng thực hiện công việc tháo dỡ căn nhà số B mặt đường T, xã N, G, Hà Nội của chị Nguyễn Thị Thu H2 vào ngày 21/02/2024. Quá trình tháo dỡ căn nhà số B mặt đường T, xã N, G, Hà Nội, Ngô Xuân T phân công nhiệm vụ cho Lê Văn K dùng dụng cụ cắt hơi bằng khí gas-oxy tạo nguồn nhiệt để cắt các thanh sắt trên tầng 4. K là người trực tiếp sử dụng dụng cụ cắt hơi bằng khí gas-oxy, đốt nóng các thanh sắt rồi thổi khí oxy áp lực cao để cắt các thanh sắt. Quá trình cắt, Lê Văn K và Ngô Xuân T không có biện pháp gì để đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy, không sử dụng đồ vật gì để che chắn xung quanh vị trí cắt. Quá trình Lê Văn K cắt kim loại bằng khí gas - ôxy bên trong nhà số B mặt đường T đã tạo ra các hạt kim loại có nhiệt độ cao bắn vào vải, quần áo bên trong gian phòng số 3, dãy nhà kho số 27 hẻm 515/45/19 gây cháy; sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy, gây hậu quả thiệt hại cho ông Nguyễn Văn B1, anh Nguyễn Đạo Đ, bà Nguyễn Thị C1, anh Nguyễn Khắc H1 và anh Nguyễn Bá T2. Tổng giá trị thiệt hại là 981.876.000 đồng.

Với hành vi như trên, bị cáo Ngô Xuân T bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm tuyên bố phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo điểm c khoản 2 Điều 313 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn K rút đơn kháng cáo là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn K.

Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, đã vô ý xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, trật tự quản lý Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại đến tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo bản án sơ thẩm bị cáo Ngô Xuân T phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn B1 số tiền: 59.856.000 đồng, ông Nguyễn Đạo Đ số tiền: 58.902.500 đồng, bà Nguyễn Thị C1 số tiền: 18.872.500 đồng, ông Nguyễn Khắc H1 số tiền: 13.167.500 đồng và cho ông Nguyễn Bá T2 số tiền: 40.139.500 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình Vi Bằng số 952/2025/VB-TPL-HN ngày 13/6/2025 của Văn phòng T4 và đơn của ông Nguyễn Văn B1, ông Nguyễn Đạo Đ, bà Nguyễn Thị C1, ông Nguyễn Khắc H1, ông Nguyễn Bá T2 đã nhận tiền bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới là khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Xuân T. Sửa Bản án số 222/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giảm hình phạt cho bị cáo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn K rút đơn kháng cáo, bị cáo Ngô Xuân T kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/HSPT ngày 09/01/2025 đối với bị cáo Lê Văn K. Bản án số 222/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đối với bị cáo Lê Văn K có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 16/6/2025.

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Xuân T.

    Sửa Bản án số 222/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

    Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy"

    Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 313; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Ngô Xuân T 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự:

    Xác nhận bị cáo Ngô Xuân T đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn B1 số tiền: 59.856.000 đồng, cho ông Nguyễn Đạo Đ số tiền: 58.902.500 đồng, cho bà Nguyễn Thị C1 số tiền: 18.872.500 đồng, cho ông Nguyễn Khắc H1 số tiền: 13.167.500 đồng, cho ông Nguyễn Bá T2 số tiền: 40.139.500 đồng.

  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Lê Văn K, Ngô Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Công an TP. Hà Nội;
  • - TAND huyện Gia Lâm;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Gia Lâm
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - UBND xã (phường) nơi cư trú của bị cáo.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 532/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 532/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn K - Điều 313
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger