|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 531/2023/HSST Ngày: 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Nguyễn Thị Chi
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Lê Thanh Đ – Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Văn Q - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 478/2023/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 574/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Văn B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1990; tại Trà Vinh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 152 ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sư: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 12/7/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Văn M, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: BGH TTSQ, N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/7/2023, Lê Văn B (Sinh năm: 1990) từ tỉnh Trà Vinh đến thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm. Do chưa có việc làm nên B nảy sinh ý định mua ma tuý để bán lại nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài. Bến được 01 người bạn (không nhớ tên) cho số điện thoại 0394.877.xxx của người đàn ông (không rõ lai lịch) bán ma tuý. Tối ngày 10/7/2023, B gọi điện thoại đến số điện thoại 0394.877.xxx hỏi mua ma tuý thì người này hẹn trưa ngày 11/7/2023 đến cầu C, xã T, huyện B để mua ma túy. Đến trưa ngày 11/7/2023, B điều khiển xe môtô biển số 55Y6-6950 đi đến khu vực cầu C, tại đây Bến gặp 01 người đàn ông mặc áo đỏ (không rõ lai lịch) và đã mua 01 gói ma túy đá của người này với giá 200.000 đồng, B cất ma túy vào trong ví rồi cất vào túi quần sau, bên trái rồi điều khiển xe môtô ra về. Đến 23 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc B điều khiển xe môtô đi đến trước nhà số G, đường L, khu phố P, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác 363 - Công an thành phố T trên đường tuần tra chặn lại kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong ví của B có ma túy nên tổ công tác đã thu giữ sau đó đưa B về giao Công an phường T, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Văn B kết quả dương tính. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã khám xét nơi B thuê ở nhưng không thu giữ được gì.
Quá trình điều tra, Lê Văn B khai nhận hành vi như trên. Số ma túy thu giữ được Bến định bán lại cho 01 người tên Thuận H (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0933.766.xxx với giá 400.000 đồng, kiếm lời 200.000 đồng, nhưng chưa kịp đem ma tuý đến bán cho H thì bị bắt.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã có công văn gửi đến Công ty V và Công ty M1 khu vực 2 để xác minh các số điện thoại di động 0394.877.xxx và 0933766603 nhưng không có kết quả trả lời.
Kết luận giám định số 7689/KL-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2251g loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, bên ngoài ghi vụ 7689; 01 cái ví màu nâu; 01 điện thoại di động Nokia màu đen có gắn sim số 0338741241; 01 xe môtô biển số 55Y6-6950; số máy RRRFS152FMH 377167n số khung RRRDCH9RRAD-377167
Cáo trạng số 449/CT-VKSTPTĐ ngày 01/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù;
Về vật chứng vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, bên ngoài ghi vụ 7689; 01 cái bóp màu nâu;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu đen có gắn sim số 0338741241; 01 xe môtô biển số 55Y6-6950; số máy RRRFS152FMH 377167, số khung RRRDCH9RRAD-377167.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 10/7/2023, tại trước nhà số G, đường L, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Văn B cất giấu ma túy trong ví có khối lượng 0,2251g loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người nghiện kiếm lời thì bị bắt quả tang. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Lê Văn B về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lê Vắn B1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn do đó cần áp dụng một hình phạt nghiêm. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Hội
đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt bị cáo B1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
[5] Đối với người đàn ông bán ma túy cho B1 và người đàn ông tên H đặt mua ma túy, do không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6] Xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, bên ngoài ghi vụ 7689 là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ và 01 cái bóp màu nâu là tư trang cá nhân của bị cáo nhưng bị cáo không có nhu cầu nhận lại và không có giá nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động N màu đen có gắn sim số 0338741241 bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tich thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 xe môtô biển số 55Y6-6950; số máy RRRFS152FMH 377167, số khung RRRDCH9RRAD-377167 do ông Võ Văn M đứng tên chủ sở hữu, ông M cho B1 làm phương tiện đi lại và B1 đã sử dụng xe trên làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Văn B 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, bên ngoài ghi vụ 7689; 01 cái bóp màu nâu;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu đen có gắn sim số 0338741241; 01 xe môtô biển số 55Y6-6950; số máy RRRFS152FMH 377167, số khung RRRDCH9RRAD-377167.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/064C ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Văn B chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 531/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 531/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
