|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 531/2023/DS-PT Ngày 26/10/2023 V/v yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển
Ông Điều Văn Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Hoàng Thị Hải,
Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 26/10/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 416/2022/TLPT-DS ngày 14/12/2022 về “Tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11511/2023/QĐPT ngày 04 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Đình L, sinh năm 1964; trú tại: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, có mặt;
- Bị đơn: Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1946; trú tại: Thôn C, huyện B, tỉnh Hải Dương
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1965;
- - Anh Vũ Đình L1, sinh năm 1985;
- - Bà Vũ Thị H, sinh năm 1957;
- - Bà Vũ Thị B, sinh năm 1975;
- - Chị Vũ Thị L2, sinh năm 1988;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Vũ Đình L1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/9/2022);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Đinh Ngọc P – Văn phòng luật sư Tâm Đức P1, Đoàn luật sư tỉnh H, có mặt;
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1977; trú tại: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 21/02/2020), có mặt;
Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Bà H, bà B, chị L2 ủy quyền cho ông Vũ Đình L (Văn bản ủy quyền ngày 24/01/2022)
Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1960, Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, triệu tập hợp lệ lần 2 vắng mặt không lý do;
Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung K, Chủ tịch UBND huyện B, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2021 và quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Vũ Đình L và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị D1, anh Vũ Đình L1, chị Vũ Thị L3 trình bày:
Cụ Vũ Đình C và cụ Nguyễn Thị H1 có 04 người con là bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị Đ, ông Vũ Đình L và bà Vũ Thị B. Cụ C và cụ H1 có khối tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa 185 + 131 tờ bản đồ số 7, diện tích 446.2m² tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Cụ H1 chết năm 1983, không để lại di chúc. Nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xác định di sản của cụ H2 là 1/2 quyền sử dụng đất được chia cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất của cụ H1 là cụ C, ông L, bà H, bà Đ, bà B.
Năm 1983, ông L kết hôn với bà Nguyễn Thị D1 và có 02 con là anh Vũ Đình L1, chị Vũ Thị L3. Ông L, bà D1 cùng các con sống chung với cụ C. Năm 1985, cụ C kết hôn với cụ D và chung sống trên thửa đất này. Cụ C và cụ D có 01 con chung nhưng đã chết từ nhỏ, ngoài ra không có con nuôi, con riêng nào khác. Năm 1993, khi Nhà nước giao đất nông nghiệp theo nghị quyết 03, hộ gia đình ông L gồm 4 người đã bị trừ 87m² đất nông nghiệp vào đất ở, thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 15/12/2002, cụ C và cụ D được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Giấy CNQSDĐ) đối với toàn bộ thửa đất nêu trên; ông L và những người con của cụ C không biết. Cụ C chết năm 2012 không để lại di chúc.
Năm 2003, để thuận tiện cho việc sử dụng, gia đình cụ C có thỏa thuận đổi 117,9m² đất ao tại thửa số 185 cho gia đình ông S, bà B1 lấy 183,7m² đất ao tại thửa 136; việc thỏa thuận của hai gia đình là hoàn toàn tự nguyện, có xác nhận của chính quyền địa phương; hai gia đình đã sử dụng ổn định từ đó đến nay và không có tranh chấp.
Sau khi kết hôn, ông L và bà D1 đã xây dựng nhà cấp 4 mái bằng, khu công trình phụ và lấp ao liền kề. Năm 2012, cụ C chết không để lại di chúc.
Ông L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- + Hủy Giấy CNQSDĐ do UBND huyện B cấp ngày 15/12/2002 đứng tên cụ Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị D đối với thửa đất số 185, 131, tờ bản đồ số 7, diện tích 446,2m².
- + Xác định 1/2 di sản thừa kế là 223,1m² đất của cụ Nguyễn Thị H1 (trong thửa đất số 185, 131, tờ bản đồ số 7, diện tích 446,2m² nêu trên) đã hết thời hiệu chia thừa kế, công nhận ông Vũ Đình L là người đã, đang quản lý sử dụng từ năm 1983 đến nay được tiếp tục quản lý, sử dụng hợp pháp diện tích đất này.
- + Xác định trong khối di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C có diện tích đất 21,75m² là tài sản riêng của ông Vũ Đình L, do năm 1993 bị trừ ruộng 03 vào làm đất ở.
- + Chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C là 136,1m² đất (trong thửa số 185, 131, tờ bản đồ số 07) theo quy định pháp luật; đề nghị trả cho bị đơn giá trị di sản thừa kế được hưởng bằng tiền hoặc giao cho bị đơn sử dụng phần đất vườn phía trong của thửa đất, ông đồng ý cắt một lối đi rộng 2m từ đường ngõ xóm vào đến phần đất giao cho bị đơn, ông sẽ tự phá dỡ công trình trên lối đi và trả cho bị đơn giá trị phần công trình thuộc quyền sở hữu của bị đơn; nếu bị đơn không đồng ý thì ông đề nghị Tòa án giữ nguyên hiện trạng các công trình đang sử dụng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Bà kết hôn với cụ C từ năm 1985. Về nguồn gốc thửa đất do bà và cụ C đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của mẹ chồng bà để lại. Để hình thành thửa đất, bà và cụ C đã vượt lập từ diện tích ao liền kề. Bà xác định toàn bộ diện tích đất này là tài sản chung của bà và cụ C; do đó, bà không chấp nhận yêu cầu chia cho cụ H1 1/2 diện tích đất này. Đối với yêu cầu của ông L về việc xác định hộ ông L bị trừ 87m² đất nông nghiệp bà không đồng ý, vì toàn bộ quyền sử dụng đất mang tên bà và cụ C nên không có việc trừ diện tích đất 03 của ông L vào diện tích đất mang tên vợ chồng bà. Khi về sống cùng cụ C, bà và cụ C đã xây dựng một gian nhà cấp 4 diện tích 33,8m² và công trình gắn liền căn nhà này; vượt lập ao liền kề sau nhà, mua sắm toàn bộ đồ dùng nội thất trong căn nhà; chăm sóc các con của cụ C và chăm sóc, phụng dưỡng mẹ chồng (cụ K1) cho đến khi cụ K1 chết vào năm 2001. Khi còn sống, cụ K1 đã cho vợ chồng bà toàn bộ thửa đất nên năm 2002, bà và cụ C đã được UBND huyện B cấp Giấy CNQSDĐ, hiện tại bà không có chỗ ở nào khác, nên đề nghị được giao phần đất có ngôi nhà cấp 4 và công trình gắn liền ngôi nhà, không đồng ý với phương án do nguyên đơn đưa ra, vì bà tuổi đã cao, không đủ khả năng xây dựng ngôi nhà mới để sử dụng nên xin giữ lại ngôi nhà cấp 4 để ở và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định toàn bộ thửa đất là di sản của cụ C, cụ H1; bà đề nghị Tòa án xem xét đến công sức quản lý, duy trì khối tài sản của bà khi chia thừa kế của cụ C.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị B trình bày:
các bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L và nếu được nhận kỷ phần thừa kế, các bà đồng ý tặng cho ông L quản lý, sử dụng.
Đại diện UBND huyện B trình bày:
Ngày 15/12/2002, UBND huyện B đã cấp Giấy CNQSDĐ đối với 2 thửa đất số 185 và 131 diện tích 446,2m² tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương mang tên ông Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị D. UBND huyện B không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L về việc đề nghị Tòa án hủy Giấy CNQSD nêu trên và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Xác minh tại UBND xã T: Theo bản đồ 299, thửa đất đang có tranh chấp thể hiện tại thửa số 399, tờ bản đồ số 07, diện tích 317m²; theo sổ mục kê, thửa đất có diện tích 306m² loại đất thổ cư; thửa số 398 diện tích 168m² loại đất mặt nước mang tên Vũ Đình C, ông C được sử dụng một phần ao tại thửa 397. Theo bản đồ và sổ mục kê năm 2001, thửa đất đang có tranh chấp thể hiện tại thửa số 131, diện tích 328,3m² loại đất thổ cư mang tên Vũ Đình C và một phần ao. Theo danh sách các hộ gia đình xin cấp Giấy CNQSDĐ, tại số thứ tự 1131, ông C, bà D được cấp gồm 300m² đất ở, 28,3m² đất trồng cây lâu năm và 117,9m² đất mặt nước nông nghiệp tại thửa 185 và 131 tờ bản đồ số 7. Hồ sơ xin cấp giấy hiện UBND xã chỉ còn lưu giữ biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất và danh sách các hộ gia đình được cấp. Diện tích đo đạc thực tế thửa đất là 505,5m² có biến động là do hộ ông C và hộ ông S, bà B1 đã đổi cho nhau diện tích ao từ năm 2003, việc đổi đất của hai gia đình chưa được điều chỉnh lại.
Kết quả thẩm định, định giá tài sản. Về quyền sử dụng đất, thửa đất đang tranh chấp có diện tích 505,5m², có ranh giới ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề, xung quanh thửa đất đều bao bọc bởi tường bao và các công trình của các hộ giáp ranh. Về tài sản trên đất bao gồm hệ thống nhà mái bằng một tầng xây dựng từ năm 1990 của vợ chồng ông L, bà D1 và công trình nhà cấp 4 xây dựng năm 1989 của bà D và cụ C. Ngoài ra trên đất còn một số công trình, cây cối ... Về giá, giá đất ở là 2.800.000 đồng/m², giá đất vườn 320.000 đồng/m²; giá toàn bộ công trình, cây cối trên đất là 107.373.500 đồng.
Các đương sự đều thống nhất không yêu cầu phân chia phần đồ đạc nội thất, đồ thờ cúng trong căn nhà cấp 4 và giao cho bà D quản lý sử dụng. Đối với phần cây cối nằm trên phần đất bên nào được chia thì bên được giao được quyền quản lý, sử dụng, không yêu cầu xác định giá trị phần cây cối.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 và tại Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 07/2022/QĐ-SCBBA ngày 15/11/2022 và số 03/2022/QĐ-SCBBA ngày 12/10/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đình L về việc phân chia di sản của cụ Vũ Đình C theo quy định của pháp luật, không chấp nhận yêu cầu xác định thời hiệu đối với phần di sản của cụ H1, không chấp nhận yêu cầu công nhận trong thửa đất đang có tranh chấp có 87m² đất 03 bị trừ vào diện tích đất 03 của hộ gia đình ông L gồm ông Vũ Đình L, bà Nguyễn Thị D1, anh Vũ Đình L1, chị Vũ Thị L2. Hủy Giấy CNQSDĐ do UBND huyện B cấp ngày 15/12/2002 đứng tên ông Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị D đối với thửa đất số 185, 131, tờ bản đồ số 7, diện tích 446,2m².
- Xác định di sản của cụ Vũ Đinh C1 và cụ Nguyễn Thị H1 là quyền sử dụng đất diện tích 418,5m² gồm 300m² đất ở và 118,5m² đất vườn. Xác định 87m² đất vườn là tài sản riêng của cụ C1.
Trích trả công sức cho ông L, bà D1, bà D mỗi người 70.000.000 đồng tương đương 25m² đất ở.
Di sản của cụ C1, cụ H1 còn lại để chia là 343,5m² gồm 225m² đất ở và 118,5m² đất vườn.
Di sản của cụ H1 là 1/2 quyền sử dụng đất diện tích 171,75m² (gồm 112,5m² đất ở và 59,25m² đất vườn). Di sản của cụ H1 chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất gồm cụ C1, bà B, bà H, bà Đ, ông L. Mỗi suất thừa kế bằng 34,35m² gồm 22,5m² đất ở và 11,85m² đất vườn, trị giá 66.792.000 đồng.
Di sản của cụ C1 là 1/2 diện tích đất, 01 kỷ phần thừa kế từ di sản của cụ H1 và 87m² đất vườn = 146,55m² gồm 67,5m² đất ở và 79,05m² đất vườn. Di sản của cụ C1 chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất gồm bà D, ông L, bà H, bà B, bà Đ, mỗi suất thừa kế = 29,31m² gồm 13.5m² đất ở và 15,81 m² đất vườn, trị giá = 42.859.200 đồng.
Về công trình, di sản của cụ C1 = 1/2 phần tài sản và công trình do cụ C1, bà D kiến thiết gồm giá trị nhà 18.590.000 đồng, sân trước nhà 1.215.000 đồng, giá trị tôn nền sân 1.944.000 đồng, nhà tắm + WC 1.860.000 đồng, bếp 1.110.000 đồng, 01 chuồng gà 297.000 đồng, 01 bán mái lợp broximang 308.000 đồng, 01 bể nước 1.000.000 đồng, tổng 13.162.000 đồng. Chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất mỗi người được 2.632.400 đồng.
Phần tài sản bà D được hưởng là 1/2 tài sản chung của cụ C1, 01 kỷ phần thừa kế từ cụ C1 và phần áng trích công sức là 200,86m² gồm 106m² đất ở, 94,86m² đất vườn, giá trị = 327.155.200 đồng. Phần giá trị công trình cụ D được hưởng là 1/2 khối tài sản chung và 01 kỷ phần 15.794.400 đồng. Tổng giá trị tài sản và quyền sử dụng đất cụ D được hưởng là 342.949.600 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị Bình t cho phần di sản cho ông Vũ Đình L. Ghi nhận sự tự nguyện của ông L sáp nhập khối tài sản thành tài sản chung vợ chồng với bà Nguyễn Thị D1. Ông L, bà D1 được hưởng phần hiện vật bằng 194m² đất ở 110,64m² đất ao vườn, trị giá bằng 578.604.800 đồng. Phần tài sản, công trình giao cho ông L, bà D1 có trị giá bằng 10.529.600 đồng.
1.2. Về phân chia bằng hiện vật:
Giao cho ông L, bà D1 sử dụng phần diện tích 351,7m² đất gồm 183,2m² đất ở, 37m² đất vườn và các công trình, cây cối trên đất được giới hạn bởi các điểm B1B2B3B4B5B6B7B8A1A15A17A16A10A9A8A7, giao cho bà D sử dụng diện tích 132,3m² đất gồm 95,3m² đất ở, 37m² đất vườn và công trình, cây cối trên đất được giới hạn bởi các điểm A4B3B4B5B6B7B8A2A3. Để các bên có điều kiện sử dụng đất, HĐXX quyết định cắt phần đường đi chung diện tích 21,5m². (có sơ đồ kèm theo).
Phần tài sản bà D được hưởng có giá trị 335.104.000 đồng.
Ông L, bà D1 có trách nhiệm trả cho bà D giá trị chênh lệch bằng 7.845.200 đồng.
Phần công trình cây cối nằm trên phần đất của ai được giao thì người được giao có toàn quyền sử dụng.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 03/10/2022, cụ Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm cho rằng chưa có cơ sở xác định về tài sản của bà H1; việc đưa diện tích ao tăng lên sau khi đổi vào để chia di sản của cụ C1, cụ H1 là không đảm bảo quyền lợi cho cụ, di sản của cụ C1 phải có thêm 59,3m² đất ao tăng lên; cụ không đồng ý hủy Giấy CNQSDĐ mà UBND huyện B cấp ngày 15/12/2002; khi phân chia tài sản bằng hiện vật thì phần quyết định không phù hợp với phần nhận định và thực trạng việc quản lý, sử dụng đất đai của cụ (thiếu 57,86m²).
Ngày 04/10/2022, ông Vũ Đình L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều thống nhất về di sản thừa kế, diện, hàng thừa kế và việc phân chia di sản thừa kế như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định. Ông Vũ Đình L thay đổi nội dung kháng cáo xuất trình Biên bản thỏa thuận đề ngày 26/10/2023 với nội dung: Cụ Nguyễn Thị D giao lại toàn bộ tài sản của cụ và kỷ phần thừa kế của cụ trong khối tài sản chung của cụ và cụ Vũ Đình C được Tòa án cấp sơ thẩm xác định có trị giá 342.949.200 đồng cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1131/QSDĐ/TV-BG do UBND huyện B cấp ngày 15/12/2002 mang tên cụ Vũ Đình C và cụ Nguyễn Thị D cho ông Vũ Đình L; ông Vũ Đình L thanh toán cho cụ Nguyễn Thị D số tiền 342.949.200 đồng là tổng giá trị tài sản cụ D và kỷ phần thừa kế của cụ D được hưởng trong khối tài sản chung của cụ và cụ Vũ Đình C. Ông L đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận nêu trên của ông và cụ D; xác nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp cho ông và bà Nguyễn Thị D1 đối với toàn bộ tài sản trên đất và thửa đất đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1131/QSDĐ/TV-BG ngày 15/12/2002 mang tên cụ Vũ Đình C và cụ Nguyễn Thị D.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Tòa án công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và xác nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp cho ông L và bà D1 đối với toàn bộ tài sản trên đất và thửa đất đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/12/2002 mang tên cụ Vũ Đình C và cụ Nguyễn Thị D.
Anh Nguyễn Văn Y (người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị D) thừa nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Vũ Đình L với cụ Nguyễn Thị D như Biên bản thỏa thuận đề ngày 26/10/2023 do ông L xuất trình và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận nêu trên của ông L, cụ D và xác nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp cho ông Vũ Đình L và bà Nguyễn Thị D1 đối với toàn bộ tài sản trên đất và thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/12/2002 mang tên cụ Vũ Đình C và cụ Nguyễn Thị D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông L, cụ D trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, ông Vũ Đình L và anh Nguyễn Văn Y (người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị D) xuất trình Biên bản thỏa thuận đề ngày 26/10/2023, khẳng định đã tự thỏa thuận giao tài sản, thanh toán tiền cho nhau và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của ông L và cụ D. Việc thỏa thuận của ông L và cụ D là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên căn cứ vào Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 03 và 04/10/2022, cụ D, ông L có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Đ đã được triệu tập hợp lệ lần 2 vắng mặt không lý do; và Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các đương sự đều thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo, thống nhất về di sản thừa kế, diện, hàng thừa kế và việc phân chia di sản thừa kế như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định; cụ Nguyễn Thị D (do anh Nguyễn Văn Y đại diện) đều thừa nhận đã tự nguyện thỏa thuận thống nhất giải quyết tranh chấp như Biên bản thỏa thuận đề ngày 26/10/2023 do ông L xuất trình; và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận nêu trên của ông L với cụ D; xác nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp cho ông Vũ Đình L và bà Nguyễn Thị D1 đối với toàn bộ tài sản trên đất và thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/12/2002 mang tên cụ Vũ Đình C và cụ Nguyễn Thị D. Xét thấy, các đương sự đều thống nhất về di sản thừa kế, diện, hàng thừa kế và việc phân chia di sản thừa kế như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định; ông Vũ Đình L và cụ Nguyễn Thị D (do anh Nguyễn Văn Y đại diện) thỏa thuận và xác lập Biên bản thỏa thuận ngày 26/10/2023 thể hiện việc cụ Nguyễn Thị D đã giao lại toàn bộ tài sản của bà trong khối tài sản chung của cụ và cụ Vũ Đình C cũng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1131/QSDĐ/TV-BG do UBND huyện B cấp ngày 15/12/2002 cho ông Vũ Đình L; ông Vũ Đình L đã thanh toán cho cụ Nguyễn Thị D số tiền 342.949.200 đồng là tổng giá trị tài sản của cụ D và kỷ phần thừa kế cụ D được hưởng trong khối tài sản chung của cụ và cụ Vũ Đình C là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Vũ Đình L với cụ Nguyễn Thị D (do anh Nguyễn Văn Y đại diện), phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Do vậy, cần sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về phần này.
[3] Về án phí: Do các bên đã tự nguyện thỏa thuận tại phiên tòa nên phải chịu án phí phúc thẩm; nhưng do cụ Nguyễn Thị D là người cao tuổi có đề nghị được miễn án phí nên không phải chịu án phí phúc thẩm; ông Vũ Đình L phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 20/9/2022, Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 07/2022/QĐ-SCBBA ngày 15/11/2022 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 03/2022/QĐ-SCBBA ngày 12/10/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, cụ thể:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đình L về việc phân chia di sản của cụ Vũ Đình C theo quy định của pháp luật, không chấp nhận yêu cầu xác định thời hiệu đối với phần di sản của cụ H1, không chấp nhận yêu cầu công nhận trong thửa đất đang có tranh chấp có 87m² đất 03 bị trừ vào diện tích đất 03 của hộ gia đình ông L gồm ông Vũ Đình L, bà Nguyễn Thị D1, anh Vũ Đình L1, chị Vũ Thị L2. Hủy Giấy CNQSDĐ do UBND huyện B cấp ngày 15/12/2002 đứng tên ông Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị D đối với thửa đất số 185, 131, tờ bản đồ số 7, diện tích 446,2m².
- Xác định di sản của cụ Vũ Đinh C1 và cụ Nguyễn Thị H1 là quyền sử dụng đất diện tích 418,5m² gồm 300m² đất ở và 118,5m² đất vườn. Xác định 87m² đất vườn là tài sản riêng của cụ C1.
Trích trả công sức cho ông L, bà D1, cụ D mỗi người 70.000.000 đồng tương đương 25m² đất ở.
Di sản của cụ C1, cụ H1 còn lại để chia là 343,5m² gồm 225m² đất ở và 118,5m² đất vườn.
Di sản của cụ H1 là 1/2 quyền sử dụng đất diện tích 171,75m² (gồm 112,5m² đất ở và 59,25m² đất vườn). Di sản của cụ H1 chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất gồm cụ C1, bà B, bà H, bà Đ, ông L. Mỗi suất thừa kế bằng 34,35m² gồm 22,5m² đất ở và 11,85m² đất vườn, trị giá 66.792.000 đồng.
Di sản của cụ C1 là 1/2 diện tích đất, 01 kỷ phần thừa kế từ di sản của cụ H1 và 87m² đất vườn = 146,55m² gồm 67,5m² đất ở và 79,05m² đất vườn. Di sản của cụ C1 chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất gồm cụ D, ông L, bà H, bà B, bà Đ, mỗi suất thừa kế = 29,31m² gồm 13.5m² đất ở và 15,81 m² đất vườn, trị giá = 42.859.200 đồng.
Về công trình, di sản của cụ C1 = 1/2 phần tài sản và công trình do cụ C1, bà D kiến thiết gồm giá trị nhà 18.590.000 đồng, sân trước nhà 1.215.000 đồng, giá trị tôn nền sân 1.944.000 đồng, nhà tắm + WC 1.860.000 đồng, bếp 1.110.000 đồng, 01 chuồng gà 297.000 đồng, 01 bán mái lợp broximang 308.000 đồng, 01 bể nước 1.000.000 đồng, tổng 13.162.000 đồng. Chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất mỗi người được 2.632.400 đồng.
Phần tài sản cụ D được hưởng là 1/2 tài sản chung của cụ C1, 01 kỷ phần thừa kế từ cụ C1 và phần áng trích công sức là 200,86m² gồm 106m² đất ở, 94,86m² đất vườn, giá trị = 327.155.200 đồng. Phần giá trị công trình cụ D được hưởng là 1/2 khối tài sản chung và 01 kỷ phần 15.794.400 đồng. Tổng giá trị tài sản và quyền sử dụng đất cụ D được hưởng là 342.949.600 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị Bình t cho phần di sản cho ông Vũ Đình L. Ghi nhận sự tự nguyện của ông L sáp nhập khối tài sản thành tài sản chung vợ chồng với bà Nguyễn Thị D1. Ông L, bà D1 được hưởng phần hiện vật bằng 194m² đất ở 110,64m² đất ao vườn, trị giá bằng 578.604.800 đồng. Phần tài sản, công trình giao cho ông L, bà D1 có trị giá bằng 10.529.600 đồng.
1.2. Về phân chia bằng hiện vật:
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Vũ Đình L với cụ Nguyễn Thị D (do anh Nguyễn Văn Y đại diện) về việc cụ Nguyễn Thị D giao lại toàn bộ tài sản của bà trong khối tài sản chung của bà và ông Vũ Đình C cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1131/QSDĐ/TV-BG do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 15/12/2002 mang tên ông Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị D cho ông Vũ Đình L; ông Vũ Đình L đã thanh toán cho cụ Nguyễn Thị D số tiền 342.949.200 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu chín trăm bốn mươi chín ngàn hai trăm đồng) là tổng giá trị tài sản cụ D và kỷ phần thừa kế cụ D được hưởng trong khối tài sản chung của cụ và cụ Vũ Đình C.
Ông Vũ Đình L và bà Nguyễn Thị D1 được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên đất và thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1131/QSDĐ/TV-BG ngày 15/12/2002 mang tên ông Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị D.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 531/2023/DS-PT ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 531/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
