|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 530/2024/HS-PT
Ngày: 03 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Đức Toàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Cao Văn Tám |
| Bà Lê Thúy Cầu |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 286/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HSST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 tại Hà Tĩnh; HKTT: 129A N, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Đình H1, sinh năm 1964; Mẹ: Đặng Thị Đ, sinh năm 1964; Chồng: Lê Minh Đ1, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 15/01/2022 (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Luật sư Lê Thị Ánh T thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
* Bị hại có liên quan đến kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Anh V, sinh năm 1986. Địa chỉ: xóm B, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
(Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, Nguyễn Thị H huy động vốn và vay mượn tiền của nhiều người để kinh doanh bất động sản và làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Đến năm 2021, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 nên việc làm ăn của H gặp khó khăn, dẫn đến thua lỗ nên không có tiền trả tiền gốc, lãi, lợi nhuận cho những người đã góp vốn và những người cho H vay tiền. Để thực hiện mục đích chiếm đoạt tiền của người khác, H nảy sinh ý định kêu gọi nhiều người góp vốn làm ăn với H trước đó rồi chiếm đoạt tiền góp vốn sử dụng vào việc trả nợ, tiêu xài cá nhân. H đưa ra thông tin gian dối tự giới thiệu là cán bộ ngân hàng M, có mối quan hệ rộng, quen biết nhiều người có địa vị trong xã hội, việc mua bán nhà đất, tài sản phát mãi ngân hàng, dịch vụ đáo hạn ngân hàng đem lại lợi nhuận cao. H cam kết chia lại lợi nhuận cao để mọi người tin tưởng góp vốn làm ăn chung với H. Từ ngày 01/3/2021 đến ngày 10/01/2022, H đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của 16 người bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt là 574.586.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Đến ngày 15/01/2022, Nguyễn Thị H đã đến Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau. Cụ thể như sau:
- Do Nguyễn Thị H và chị Lê Thị Thanh T1 (sinh năm 1984; trú tại KP P, TT P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có quan hệ quen biết thân thiết và cùng làm ăn chung từ năm 2018. Đến từ ngày 02/3/2021 đến ngày 10/01/2022, do không còn khả năng chi trả nên H đã đưa là thông tin gian dối là góp vốn với H để thực hiện dịch vụ đáo hạn ngân hàng cùng chia lợi nhuận cao, chị Tâm t thật đã nhiều lần chuyển tiền cho H chiếm đoạt tổng số tiền 146.660.000.000 đồng và trong thời gian này H đã chuyển trả cho chị T1 số tiền 47.602.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được, H đã trả nợ cho người khác và tiều xài cá nhân hết.
- Chị Lê Thị Ngọc T2 (sinh năm 1989; trú tại KP P, TT P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) - là em gái của chị Lê Thị Thanh T1. Thông qua chị T1, H đã đưa là thông tin gian dối góp vốn với H để thực hiện dịch vụ đáo hạn ngân hàng cùng chia lợi nhuận, chị T2 tin tưởng nên đã chuyển tiền nhiều lần với H từ ngày 10/9/2021 đến 08/01/2022 tổng số tiền 99.058.000.000 đồng, sau đó H đã chuyển trả lại cho chị T2 số tiền 59.058.000.000 đồng. số tiền chiếm đoạt H dùng để trả nợ cho người khác.
- Nguyễn Thị H thông qua bạn bè quen biết với chị Nguyễn Thị Diễm L (sinh năm 1989; trú tại KP P, TT P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu),chị L đã nhiều lần góp vốn với H từ ngày 08/11/2021 đến 06/01/2022 với tổng số tiền 117.380.000.000 đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng nhưng H không thực hiện đáo hạn ngân hàng mà đem đi trả nợ cho người khác rồi lại lấy tiền của người khác trả cho chị L được số tiền 67.000.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị H là người cùng quê với anh Bùi Văn H2 (sinh năm 1988; trú tại xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh). Anh H2 nhiều lần góp vốn với H từ ngày 18/10/2021 đến 07/01/2022 tổng số tiền 102.445.000.000 đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Sau đó, H lại chiếm đoạt của người khác trả cho anh H2 được số tiền 82.445.000.000 đồng. Hiện H còn chiếm đoạt của anh H2 20.000.000.000 đồng.
- Anh Lê Xuân S (sinh năm 1987; trú tại xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh) là anh em họ hàng với anh Lê Minh Đ1 - chồng của Nguyễn Thị H. Từ ngày 01/3/2021 đến 30/11/2021, anh S nhiều lần góp vốn với H tổng số tiền 9.720.000.000 đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Sau khi chiếm đoạt, H dùng tiêu xà cá nhân và trả nợ cho người khác.
- Nguyễn Thị H là bạn bè với chị Văn Thị C (sinh năm 1986; trú tại 1601chung cư Lakeside A, phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Từ ngày 23/12/2021 đến ngày 29/12/2021, chị C nhiều lần góp vốn với H tổng số tiền 5.075.000.000đồng để mua bán bất động sản nhưng H không mua bất động sản mà chiếm đoạt hết số tiền của chị C để tiêu xài cá nhân và trả nợ cho bị hại khác.
- Nguyễn Thị H quan hệ bạn bè với anh Nguyễn Văn P (sinh năm 1977; trú tại ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 8/2021, anh P đưa cho Hằng số tiền 2.500.000.000 đồng để góp vốn mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng nhưng H đã chiếm đoạt dùng số tiền trên để trả nợ cho người khác.
- Khoảng năm 2018, Nguyễn Thị H quan biết làm ăn chung với chị Võ Thị N (sinh năm 1987; trú tại ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Từ ngày 06/09/2021 đến 28/12/2021, chị N góp vốn với H nhiều lần với tổng số tiền 14.350.000.000đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Số tiền H chiếm đoạt đã dùng trả lại cho chị N số tiền 8.366.000.000 đồng.
- Anh Vũ Trung K(sinh năm 1987; trú tại G L, phường D, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ) là bạn bè thân thiết với anh Lê Minh Đ1. Thông qua anh Đ1, từ ngày 28/12/2021 đến 07/01/2022, anh K nhiều lần góp vốn với H tổng số tiền 17.000.000.000đồng để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Số tiền chiếm đoạt của anh K thì H đã dùng tiêu xài và trả nợ cho người khác.
- Nguyễn Thị H với chị Trần Thị H3 (sinh năm 1990; trú tại B T12A chung cư P1-IC số 242 N, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có mối quan hệ quen biết với nhau, do chồng chị Trần Thị H3 là bạn bè thân thiết với anh Đ1. Từ ngày 19/3/2021 đến ngày 27/11/2021, chị Trần Thị H3 nhiều lần góp vốn với H3 tổng số tiền 7.800.000.000đồng để mua bán bất động sản, làm dịch đáo hạn ngân hàng. Nhưng H3 không làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng mà đã dùng số tiền trên để trả nợ cho người khác.
- Nguyễn Thị H với anh Phan Thanh T3 (sinh năm 1983; trú tại xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh) là người cùng quê với nhau. Anh T3 nhiều góp vốn làm ăn chung với H từ ngày 19/8/2021 đến 04/12/2021 với tổng số tiền 2.450.000.000đồng để mua bán bất động sản, làm dịch đáo hạn ngân hàng. H đã chuyển trả cho anh T3 số tiền 1.050.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị H với chị Nguyễn Thị Anh V (sinh năm 1986; trú tại xã T, TP H, tỉnh Hà Tĩnh) là chị em họ hàng với nhau. Chị V góp vốn làm ăn chung với H từ ngày 26/3/2021 đến ngày 23/8/2021 với H tổng số tiền 8.320.000.000 đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Nhưng H đã không làm dịch vụ đáo hạn mà chiếm đoạt số tiền trên để trả nợ cho người khác.
- Nguyễn Thị H với chị Nguyễn Thị Ngọc H4 (sinh năm 1988; trú tại ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) quen biết góp vốn làm ăn chung với nhau từ tháng 7/2021 trở về sau này, chị H4 nhiều lần góp vốn với H tổng số tiền 2.990.000.000đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Sau khi chiếm đoạt được, H đã tiêu xài hết.
- Nguyễn Thị H và chị Lê Thị X (sinh năm 1990; trú tại B N, phường T, TP V) quen biết với nhau do chồng chị X là bạn bè thân thiết với chồng H. Từ ngày 30/11/2021 đến 01/01/2022, chị X nhiều lần chuyển tiền cho H tổng số tiền 2.300.000.000 đồng để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Số tiền trên H chiếm đoạt được H không làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng mà dùng để trả nợ cho người khác.
- Thông qua chị X, chị Lê Thị L1 (sinh năm 1984; trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) quen biết H từ ngày 11/8/2021 đến ngày 31/12/2021, chị L1 nhiều lần góp với với H tổng số tiền 20.830.000.000 đồng để mua bán bất động sản, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Sau khi nhận được tiền của chị L1 thì H đã chiếm đoạt tiêu xài cá nhân và trả nợ cho người khác.
- Nguyễn Thị H với chị Phan Thị T4 (sinh năm 1992; trú tại xã T, TP H, tỉnh Hà Tĩnh) là bạn bè quen biết thân thiết với H. Chị T4 góp vốn làm ăn chung với H từ năm 2020. Từ ngày 05/3/2021 đến 27/12/2021, chị T4 nhiều lần góp vốn với H tổng số tiền 15.708.000.000 đồng để mua bán bất động sản. Trong thời gian này, H chuyển trả cho chị T4 số tiền 9.763.000.000 đồng.
Tại Cơ quan CSĐT lời khai của H phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ, có đủ căn cứ xác định Nguyễn Thị H thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với 16 bị hại như đã nêu trên trong thời gian từ tháng 3/2021 đến ngày 10/01/2022 với tổng số tiền là 574.586.000.000 đồng.
Qua các tài liệu cơ quan điều tra thu thập xác định: phần lớn tiền góp vốn của các bị hại, H dùng để trả tiền góp vốn, lãi, lợi nhuận xoay vòng cho các bị hại và những người cho H vay tiền. Sau khi trả tiền góp vốn, lợi nhuận cho các bị hại thì H tiếp tục huy động các bị hại góp vốn vào việc làm ăn mới. Các bị hại đã tin tưởng và sử dụng chính số tiền H trả lại và tiền cá nhân để tiếp tục góp với H nhiều lần với số tiền góp vốn ngày càng lớn, trong khoảng thời gian dài.
- Một phần H dùng vào việc tiêu xài cá nhân và mua xe ô tô, trang sức, điện thoại, túi xách, quần áo, dày dép.....Trong đó, H sử dụng tiền chiếm đoạt của các bị hại để mua xe ô tô hiệu Mercedes – Benz, biển số 72A-52208. Sau khi mua xe, H thế chấp xe cho ngân hàng để vay tiền và một phần H dùng vào việc mua nhà đất nhưng sau đó H đều nhanh chóng bán lỗ hoặc thế chấp lấy tiền trả nợ. Cơ quan CSĐT không có cơ sở để xác định số tiền H chiếm đoạt được của các bị hại, H đã chuyển trả nợ cho ai, vào thời gian nào, số tiền bao nhiêu... do đó Cơ quan CSĐT không thu hồi được số tiền H đã chiếm đoạt của các bị hại.
Ngoài 16 bị hại nêu trên, Cơ quan CSĐT còn nhận được đơn của ông Nguyễn Phước T5 (sinh năm 1958; trú tại ấp F, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), anh Mai Văn C1 (sinh năm 1993; trú tại KP P, TT P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), anh Bùi Thanh B (sinh năm 1974; trú tại B N, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) tố giác H lừa đảo chiếm đoạt tiền qua hình thức vay mượn tiền. Quá trình điều tra, xác định nội dung tố giác tội phạm của ông T5, anh C1 và anh B là giao dịch dân sự, không có dấu hiệu tội phạm nên Cơ quan CSĐT đã thông báo đến ông T5, anh C1 và anh B liên hệ Tòa án giải quyết.
+ Đồ vật, tài liệu, tài sản tạm giữ và kê biên:
- Khám xét chỗ ở của H tại nhà số A L, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan CSĐT phát hiện, tạm giữ một số đồ vật (có biên bản thu giữ kèm theo).
- Tạm giữ 01 (một) xe ô tô hiệu Mercedes – Benz, loại S450, BKS: 72A-52208. Quá trình điều tra xác định xe ô tô là của Nguyễn Thị H dùng tiền góp vốn của bị hại để mua, sử dụng. Sau khi mua xe, H thế chấp xe tại Ngân hàng T6 Chi nhánh V1 để lấy tiền trả nợ.
- Cơ quan CSĐT ra Lệnh kê biên đối với thửa đất số 139, tờ bản đồ số 40, diện tích 100m2, địa chỉ: phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản chung của Nguyễn Thị H và Lê Minh Đ1 có từ trước thời điểm H thực hiện hành vi phạm tội. Hiện thửa đất đã được H và anh Đ1 thế chấp tại Ngân hàng O Chi nhánh V1.
+ Xử lý đồ vật, tài liệu, tài sản tạm giữ:
Trên cơ sở thỏa thuận của bị can Nguyễn Thị H đối với Ngân hàng T6 chi nhánh V1 và yêu cầu về việc thu hồi tài sản của bị can để khắc phục hậu quả cho các bị hại trong vụ án, Cơ quan CSĐT bàn giao xe ô tô hiệu Mercedes – Benz, loại S450, BKS: 72A-52208 cho Ngân hàng T6 Chi nhánh V1 để phối hợp xử lý. Ngân hàng T7 tổ chức bán đấu giá xe ô tô theo quy định pháp luật thu về số tiền 3.528.000.000đồng và đã bàn giao lại cho Cơ quan CSĐT. Sau khi tiếp nhận số tiền nói trên từ Ngân hàng T6, Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử lý tài sản trả lại cho Ngân hàng T6 số tiền 2.324.453.063đồng, đây là số tiền H nợ Ngân hàng T6 và chi phí Ngân hàng T6 bỏ ra trong việc vận chuyển, bảo quản, bán đấu giá xe ô tô. Hiện tại Cơ quan CSĐT đang tạm giữ số tiền còn lại là 1.203.546.937 đồng.
Đối với anh Lê Minh Đ1 - chồng của bị can Nguyễn Thị H, khi thấy anh Vũ Trung K có tiền muốn hùn vốn làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng nên đã giới thiệu anh K góp chung với H. Anh Đ1 không biết H chiếm đoạt tiền góp vốn của anh K để trả nợ cho người khác nên Cơ quan CSĐT chưa đủ cơ sở xử lý đối với anh Đ1.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HSST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 39 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thị H tù Chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ, tạm giam 15/01/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Phần xét hỏi:
- Bị cáo Nguyễn Thị H giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo cho rằng mức hình phạt mà Tòa cấp sơ tuyên là quá cao không tương xứng với hành vi của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, kính mong HĐXX xem xét.
- Bị hại Nguyễn Thị Anh V có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thị H, tạo điều kiện cho bị cáo sớm ra tù làm việc kiếm tiền trả lại cho người bị hại.
- Phần tranh luận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ, tình tiết mới có cơ sở chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên hình phạt tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát quy kết đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo đã cố gắng bồi thường hơn 200 tỷ cho các bị hại, bị cáo có con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuổi đời còn trẻ. Do đó đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về xã hội kiếm thu nhập để bồi thường thiệt hại cho bị hại.
- Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo và bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo tuổi đời còn trẻ, có con nhỏ sinh năm 2018, bị cáo đã tự đầu thú, đã khắc phục hơn 200 tỷ (gần 1/2 số tiền chiếm đoạt) kính mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội để làm lại cuộc đời, kiếm thu nhập trả nợ cho bị hại và nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị H thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
- [2.1] Để có tiền tiêu xài và trả nợ cho nhiều người khác, từ ngày 01/3/2021 đến ngày 10/01/2021, bị cáo Nguyễn Thị H đã thực hiện các thủ đoạn gian dối giả danh là nhân viên Ngân hàng Q chi nhánh tỉnh V1 có mối quan hệ rộng, khả năng mua bán nhà đất đang bị ngân hàng phát mãi với giá rẻ hơn giá thị trường, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng lợi nhuận cao để làm cho 16 bị hại tin tưởng chuyển giao tiền cho bị cáo H rồi bị cáo H chiếm đoạt tổng số tiền 574.586.000.000 đồng, cụ thể là: chiếm đoạt của chị Lê Thị Thanh T1 số tiền 146.660.000.000 đồng; của chị Lê Thị Ngọc T2 số tiền 99.058.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Diễm L số tiền 117.380.000.000 đồng; của anh Bùi Văn H2 số tiền 102.445.000.000 đồng; của anh Lê Xuân S số tiền 9.720.000.000 đồng; của chị Văn Thị C số tiền 5.075.000.000 đồng; của anh Nguyễn Văn P số tiền 2.500.000.000 đồng; của anh Vũ Trung K số tiền 17.000.000.000 đồng; của chị Võ Thị N số tiền 14.350.000.000 đồng; của chị Trần Thị Hằng s tiền 7.800.000.000 đồng; của anh Phan Thanh T3 số tiền 2.450.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Anh V số tiền 8.320.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Ngọc H4 số tiền 2.990.000.000 đồng; của chị Lê Thị X số tiền 2.300.000.000 đồng; của chị Lê Thị L1 số tiền 20.830.000.000 đồng; của chị Phan Thị T4 số tiền 15.708.000.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc giả danh nhân viên Ngân hàng để làm cho những người bị hại tin tưởng giao tiền rồi chiếm đoạt tiền những người bị hại là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, tạo dư luận xấu trong xã hội.
- [2.2] Với hành vi nêu tại mục [2.1], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [2.1] Để có tiền tiêu xài và trả nợ cho nhiều người khác, từ ngày 01/3/2021 đến ngày 10/01/2021, bị cáo Nguyễn Thị H đã thực hiện các thủ đoạn gian dối giả danh là nhân viên Ngân hàng Q chi nhánh tỉnh V1 có mối quan hệ rộng, khả năng mua bán nhà đất đang bị ngân hàng phát mãi với giá rẻ hơn giá thị trường, làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng lợi nhuận cao để làm cho 16 bị hại tin tưởng chuyển giao tiền cho bị cáo H rồi bị cáo H chiếm đoạt tổng số tiền 574.586.000.000 đồng, cụ thể là: chiếm đoạt của chị Lê Thị Thanh T1 số tiền 146.660.000.000 đồng; của chị Lê Thị Ngọc T2 số tiền 99.058.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Diễm L số tiền 117.380.000.000 đồng; của anh Bùi Văn H2 số tiền 102.445.000.000 đồng; của anh Lê Xuân S số tiền 9.720.000.000 đồng; của chị Văn Thị C số tiền 5.075.000.000 đồng; của anh Nguyễn Văn P số tiền 2.500.000.000 đồng; của anh Vũ Trung K số tiền 17.000.000.000 đồng; của chị Võ Thị N số tiền 14.350.000.000 đồng; của chị Trần Thị Hằng s tiền 7.800.000.000 đồng; của anh Phan Thanh T3 số tiền 2.450.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Anh V số tiền 8.320.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Ngọc H4 số tiền 2.990.000.000 đồng; của chị Lê Thị X số tiền 2.300.000.000 đồng; của chị Lê Thị L1 số tiền 20.830.000.000 đồng; của chị Phan Thị T4 số tiền 15.708.000.000 đồng.
- [3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H
- [3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; ngươi bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), từ đó xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H tù chung thân về tội “Lừa sảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.
- [3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cũng như đề nghị của người bào chữa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của là có căn cứ chấp nhận.
- [4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 39 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thị H tù Chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ, tạm giam 15/01/2022.
- Tiếp tục giam giữ bị cáo Nguyễn Thị H để đảm bảo Thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Các Thẩm phán | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Cao Văn Tám | Vũ Đức Toàn |
| Lê Thúy Cầu |
Bản án số 530/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 530/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
