Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TL

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST

Ngày: 31/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Đình Hiển.
  2. Ông Lương Văn Kế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mừng- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980 tại xã ĐC, huyện PhC, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn DL, xã ĐC, huyện PhC, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn P (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 53/HSST ngày 8/11/1997 của Tòa án nhân dân huyện TL xử phạt Nguyễn Văn Q 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản; Bị tạm giữ từ ngày 29/6/2023 đến ngày 05/7/2023 chuyển tạm giam; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Chị Lưu Thị Th, sinh năm 1981 - Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh Hưng Yên
  • - Anh Nguyễn Văn Qg, sinh năm 1996 - Vắng mặt
  • Địa chỉ: Thôn ĐX, xã CC, huyện TL, tỉnh Hưng Yên

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 29/6/2023, tại khu vực dốc Xuôi thuộc thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, Công an xã TL phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Q đang tàng trữ trong lòng bàn tay trái 02 gói giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục (được niêm phong ký hiệu M1). Tại chỗ Q khai nhận chất bên trong hai gói giấy trên đều là ma túy của Q mua, mục đích để sử dụng. Ngoài ra còn quản lý 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, gắn 01 thẻ sim Viettel.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện TL tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Q ở thôn DL, xã ĐC, huyện PhC, tỉnh Hưng Yên. Qua khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số: 409/KL-KTHS(MT) ngày 02/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng là 0,316g, là ma túy loại Heroine.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Q khai nhận: Bản thân Q là người nghiện ma túy, lệ thuộc ma túy bằng hình thức tiêm Heroine vào cơ thể từ năm 2018 đến nay. Khoảng 9 giờ 10 phút ngày 29/6/2023, Q có bạn tên thường gọi là Gấu (không rõ họ tên, lý lịch, địa chỉ cụ thể) gọi tới số điện thoại 0398.728.xxx của Q rủ đi mua ma túy về để sử dụng chung thì Q đồng ý. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, G điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không rõ biển kiểm soát) đến nhà Q rồi chở Q đến khu vực dốc Xuôi thuộc thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, mục đích để đi mua ma túy về cùng sử dụng. Khi đến khu vực dốc Xuôi, Gấu đưa cho Q 400.000đồng gồm 02 tờ tiền, mỗi tờ mệnh giá 200.000đồng và bảo Q xuống dìa bờ sông gần đó để mua ma túy. Q cầm tiền đi xuống dốc dìa sông thì gặp một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, cao khoảng 1,6m, người gầy, đeo khẩu trang (không biết rõ họ tên, địa chỉ), Q đưa 400.000đồng cho người đàn ông thì người đàn ông đưa cho Q 02 gói giấy, Q mở 02 gói giấy ra kiểm tra thấy bên trong đều là ma túy loại Heroine thì cầm 02 gói trên quay lại chỗ Gấu đứng đợi. Khi Q đến gần dốc Xuôi thuộc thôn TL, xã TL, huyện TL thì bị Công an xã TL phát hiện bắt quả tang.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • - 02 gói giấy bên trong có chất kết tinh màu trắng được cho vào 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1. Sau khi giám định hoàn lại 01 Phong bì niêm phong số: 409/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 0,307g ma túy, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 02 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ màu xanh, số immei: 058850/02/087165/3 (đã qua sử dụng, không có lắp phía sau). Gắn 01 thẻ sim Viettel, 05 số cuối seri sim là 70699.

Tại Cáo trạng số: 46/CT-VKSTL ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân

3

dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
  • - Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL:

Giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị HĐXX:

  • - Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu cho tiêu hủy 01 Phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 409/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 0,307g ma túy, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 02 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • + Tịch thu sung công Quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ màu xanh, số immei: 058850/02/087165/3 (đã qua sử dụng, không có lắp phía sau). Gắn 01 thẻ sim Viettel, 05 số cuối seri sim là 70699.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện TL; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TL trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã TL lập hồi 10 giờ 15 phút ngày 29/6/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 29/6/2023; Bản Kết luận giám định số: 409/KL-KTHS(MT) ngày 12/7/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên; Lời khai của người làm chứng chị Lưu Thị Th, anh Nguyễn Văn Qg, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu thu thập khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chúng cứ này phù hợp khách quan với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 29/6/2023, tại khu vực dốc

4

Xuôi thuộc thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn Q đã có hành vi tàng trữ tại lòng bàn tay trái 0,316g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.

Hành vi trên của Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố bị cáo về tội danh và áp dụng điều luật như Cáo trạng đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có một tiền án đã được xóa án tích về tội Trộm cắp tài nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội mà lại sử dụng ma túy dẫn đến nghiện và lệ thuộc ma túy, biết rõ tác hại của ma túy đối với con người nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu trái pháp luật của mình, Do vậy phải bắt bị cáo cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số: 409/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 0,307g ma túy, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 02 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 là của Nguyễn Văn Q đã sử dụng vào việc liên lạc với Gấu để mua ma túy, đây là công cụ phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với người thanh niên tên Gấu là người Q khai gọi đến số điện thoại 0398.728.xxx của Q rủ Q đi mua ma túy và đưa tiền cho Q mua ma túy. Cơ quan

5

cảnh sát điều tra Công an huyện TL đã có công văn yêu cầu tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội cung cấp thông tin các thuê bao liên lạc với thuê bao 0398.728.xxx trong sáng ngày 29/8/2023, tuy nhiên đến nay chưa có kết quả trả lời. Tài liệu điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch, sô điện thoại người tên Gấu sử dụng nên Cơ quan điều tra Công an huyện TL tách nội dung trên để xác minh, làm rõ và xử lý khi có căn cứ.

Đối với người bán ma túy cho Q, tài liệu điều tra không xác định được là ai, có nhân thân lai lịch thế nào, do vậy không có đủ thông tin để xác minh làm rõ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt, xử lý vật chứng, án phí đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/6/2023.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 Phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 409/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 0,307g ma túy, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 02 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • - Tịch thu sung công Quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ màu xanh, số immei: 058850/02/087165/3 (đã qua sử dụng, không có lắp phía sau). Gắn 01 thẻ sim Viettel, 05 số cuối seri sim là 70699.

(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSTL ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên).

[3]Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện TL;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

6

  • - Công an huyện TL;
  • - Chính quyền địa phương;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THA dân sự huyện TL;
  • - Lưu hồ sơ án phạt nhân thân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 53/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger