|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 53/2024/HS-PT Ngày 31 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà
Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký
Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Thư ký phiên toà tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Công Tân – Thư
ký Toà án nhân dân huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Văn T1 và Phan Trung H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.Các bị cáo kháng cáo:
- Trần Văn T1, sinh ngày 25/7/1993 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Văn V và bà Đặng Thị M; có vợ là chị Nguyễn Thị Thanh N, có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 65/2012/HS-ST ngày 22/6/2012, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy tuyên phạt 02 năm 06 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/10/2023 đến nay, có mặt tại điểm cầu trung tâm.
- Phan Trung H, sinh ngày 18/12/1976 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; tôn giáo:
2
Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phan Văn C và bà Phạm Thị Minh Đ; vợ là chị Phan Thị N1, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 3/1996 đến tháng 9/1998 tham gia nghĩa vụ quân sự; ngày 16/3/2023, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P khởi tố về tội “Nhận hối lộ”; Bản án số 22/2024/HS-PT ngày 03/4/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đã ra Quyết định thi hành án số 21 ngày 23/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam số 72/2024/HSST-QĐTG ngày 29/7/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, có mặt tại điểm cầu thành phần.
Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Minh K, Đoàn Văn S, Ngô Văn H1, Lê Hồng H2, Lê Mạnh D không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước ngày 01/9/2019 khoảng một tuần, bị cáo Nguyễn Minh K có nhắn tin, gọi điện nói chuyện với bị cáo Lê Hồng H2 và Ngô Văn H1 hẹn vào dịp lễ 02/9/2019 sẽ cùng nhau đi hát karaoke và sử dụng ma túy. Sau đó, K có gặp và hẹn Lê Mạnh D nghỉ lễ 02/9 sẽ đi hát karaoke và cùng nhau sử dụng ma túy. Khoảng 19h ngày 01/9/2019, H2 gọi điện cho K nói: “Lên quán Quê Tôi mấy anh em tập trung đi chơi tí”, ý của H2 là đi hát karaoke và sử dụng ma túy như đã hẹn. Bị cáo K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 17A-117.75 của K đến của quán Q thuộc thôn N, xã T, huyện T đón H2. Khi H2 lên xe, K bàn với H2 mỗi người góp 1.000.000 đồng để đi mua ma túy sử dụng và trả tiền phòng hát. Bị cáo H2 đồng ý và nói K chở về nhà để H2 lấy tiền. Trên đường chở H2 về nhà có đi qua nhà bị cáo Trần Văn T1. Khay thấy T1 đang ngồi ở cửa nhà thì dừng và hạ kính xe nói với T1: “Anh em đi chơi, hát hò tí không? Mỗi anh em một triệu, anh có đi không?”. T1 thấy K nói vậy thì trả lời: “Anh không có tiền”. K bảo T1: “Anh xoay đi tý em quay lại đón”, rồi chở H2 về nhà lấy 1.000.000 đồng, H2 đưa cho K. K cầm tiền rồi một mình điều khiển xe ô tô quay lại đón T1. Trên đường đi K gọi điện cho H1 nói: “Tối đi chơi thì mỗi người sẽ đóng 1.000.000 đồng, đang ở đâu đấy chuẩn bị tiền tao đón”. H1 đồng ý và sau khi đón T1 thì K chở T1 đến ngã tư chợ Đ2, T đón H1. Khi H1 lên xe K bảo H1 đưa tiền thì H1 trả lời: “Cho vay tạm sáng mai em chuyển cho”. K đồng ý rồi chở T1 và H1 đi ra khu vực huyện V, thành phố Hải Phòng để mua ma túy. Trên đường đi K gọi điện cho D nói “Mấy anh em mỗi người đóng một triệu mày có về không?”. Nghe K nói D hiểu ý việc mỗi người đóng 1.000.000 đồng để sử dụng ma túy nên bảo K cho D vay tiền, K đồng ý và
3
tiếp tục nói với T1 “Giờ anh em đi lấy đồ mỗi người đóng một triệu”. T1 nói: “Anh không có tiền trong thẻ, anh còn mấy trăm có gì mai anh chuyển sau”, K đồng ý và chở T1, H1 đi ra khu vực huyện V. Khi đến khu vực cầu H, bị cáo K dừng xe thì có một người đàn ông khoảng 35 tuổi đi xe máy dừng phía sau xe ô tô. Khay mua của người đàn ông này 03 viên thuốc lắc được đựng trong 01 túi nilon trong suốt và 01 chỉ Ketamine đựng trong túi nilon trong suốt với giá 3.600.000 đồng. Trên đường về K gọi điện cho H2, bảo H2 mua 01 con dao tem để cắt ma túy. Lúc này, D đi taxi từ thành phố T về quán nước gần cổng trường trung học phổ thông T4 ngồi đợi. H2 vào quán T5 một con dao tem, rồi đến gặp D. Khi K chở T1, H1 về đến cổng trường trung học phổ thông T4 thì gặp D và H2 đang ở quán nước. Duân, H2 lên xe, K chở mọi người đi xuống thị trấn D để thuê phòng hát. Trên đường đi K nói với mọi người: “Mua 03 viên kẹo và 01 chỉ Ketamine hết 3.600.000 đồng, mỗi anh em một triệu”. Lúc đó T1 cầm 02 túi ma túy vừa mua được đưa ra cho D và H2 xem. Khi đi đến cửa quán K1, thị trấn D, K vào gặp Nguyễn Tiến Đ1 là nhân viên quản lý của quán hỏi thuê phòng hát thì được Đ1 bố trí cho K phòng hát dưới tầng hầm. K đi ra cửa quán nói T1, H1, H2, D đi vào quán. Khi xuống xe T1 đưa 02 gói ma túy cho H1. H1 cầm 2 túi ma túy rồi đi cùng T1, H2, D xuống phòng hát dưới tầng hầm. Lúc K vào đặt xong phòng hát thì có gặp Phan Trung H, Bùi Thanh T2, Ngô Minh D1, sinh năm 1984, trú tại thôn V, xã T, huyện T, Đinh Thị Lệ T3 và Phạm Thị H3 cũng đến quán để thuê phòng hát, nhưng do quán không còn phòng hát nên H, T2, D1, T3, H3 ngồi ở quán đợi. Do quen biết từ trước nên K đứng lại nói chuyện với H và rủ H vào phòng hát của K để hát cùng. H đồng ý nên K dẫn H và T2 vào phòng hát cùng T1, D, H1, H2. Sau đó, K quay lại quầy lễ tân gọi anh Đ1 nhân viên quán hát lấy cho một chiếc đĩa sứ, Đ1 đưa cho K 01 chiếc đĩa sứ màu trắng hình bầu dục tại quầy lễ tân. Học đưa cho K 01 túi nilon bên trong có 03 viên ma túy MDMA và 01 túi nilon chứa Ketamine. Khay hỏi H2: “Dao tem đâu?”. H2 lấy con dao tem đã mua trước đó để trong túi áo ngực đưa cho K. K cầm con dao tem và lấy 03 viên ma túy MDMA ra dùng dao tem cắt chia thành 6 phần. Khay đưa cho H, H2, H1, T1, D mỗi người ½ viên. H2, T1, D nhận ½ viên thuốc lắc cho vào miệng sử dụng. Khay sử dụng ½ viên. Khi H1 đang cầm 1½ viên ma túy MDMA ở tay, chưa kịp sử dụng thì H nói với H1: “Mày trẻ con chơi ít thôi”. H lấy viên MDMA của H1, dùng tay bẻ làm hai phần, H giữ lại một phần còn một phần trả lại cho H1. Học nhận phần ma túy MDMA H đưa lại cho vào miệng sử dụng. Sau khi K chia ma túy MDMA cho mọi người xong, H đi ra khỏi phòng hát dẫn D1, T3, H3 vào phòng hát của nhóm K để chờ phòng hát. Khi vào phòng hát, H đưa cho T2 ma túy MDMA nhưng T2 không dùng nên H đến ngồi cạnh T3 đưa cho T3 ½ viên ma túy MDMA bảo T3 sử dụng, Thủy cầm cho
4
vào miệng sử dụng. Sau đó H tiếp tục đưa cho H3 ¼ viên ma túy MDMA lấy được từ Học bảo H3 sử dụng nhưng H3 không cầm nên H cầm ¼ viên ma túy đưa vào miệng Hòe rồi lấy lon cocacola trên mặt bàn đưa cho H3 uống, nuốt ¼ viên ma túy MDMA. Khoảng 10 phút sau K cầm chiếc đĩa sứ màu trắng bảo T1 đốt cho nóng đĩa. Do không biết đốt nên T1 đưa lại cho K. Khay lấy bật lửa đốt đáy đĩa cho nóng lên. Trong lúc K đốt nóng đĩa, H2 hỏi D “Có tiền lẻ không?”. D lấy tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng đưa cho H2, Hà cuộn tờ tiền thành ống hút, lấy 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng cố định 2 đầu chiếc ống hút rồi đưa ống hút cho H1 cầm. Lúc này K hỏi H1: “Mày có thẻ không đưa tao”. Học lấy từ túi áo của H1 01 thẻ ATM đưa cho K. K lấy từ trong túi quần ra 01 túi nilon chứa Ketamine và đổ lên mặt đĩa, sau đó dùng thẻ ATM để đảo, xào, kẻ Ketamine trên mặt đĩa thành các đường mảnh. K cầm ống hút để lên mặt đĩa rồi bê đĩa Ketamine đến mời D1 sử dụng. D cầm điện thoại bật đèn flash soi cho D1 sử dụng Ketamine. Sau khi sử dụng xong, Dương cầm đĩa Ketamine đi mời Học, H2 sử dụng. K nhận đĩa Ketamine từ D1 đưa cho T1 sử dụng. D tiếp tục cầm điện thoại bật đèn flash soi cho T1 sử dụng Ketamine, sau đó K tiếp tục cầm đĩa Ketamine để D sử dụng, rồi K tự sử dụng Ketamine trên đĩa. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đoàn Văn S là bạn chơi với D1 và H vào phòng hát của nhóm K và ngồi xuống ghế góc phía trong của phòng hát. Khi thấy S, H2 cầm đĩa Ketamine mời S sử dụng. S sử dụng hết số ma túy Ketamine còn lại trên đĩa. Thấy hết ma túy Ketamine, S lấy 03 gói Ketamine đựng trong túi đeo chéo ra và cất 02 gói Ketamine vào túi quần đang mặc, còn 01 gói Ketamine, S đổ một phần trong túi ra mặt đĩa sứ phần còn lại trong túi nilon để lên mặt bàn. Số ma tuý S mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi tại khu vực quận L, thành phố Hà Nội với giá 12.000.000 đồng nhưng S không biết tên, địa chỉ của người này. Sau đó, S lấy thẻ ATM trên mặt đĩa miết và kẻ Ketamine thành các đường thẳng rồi cầm đĩa Ketamine đi mời D1, H1, H2, D sử dụng, rồi S tự sử dụng. Sau đó K cầm đĩa Ketamine đến cho T1 sử dụng. S ngồi ở ghế và tự sử dụng Ketamine trên đĩa lần 2. Nhảy một lúc Khay lại cầm đĩa Ketamine lên đưa cho H2, H1 sử dụng. Một lúc sau K đến ngồi cạnh S và hỏi S còn Ketamine không thì đưa cho K, S lấy từ túi quần ra 1 gói Ketamine đưa cho K, K đổ một phần ra đĩa sứ, phần còn lại trong túi nilon để lên mặt bàn. Khay tiếp tục đốt, xào, kẻ Ketamine, T1 bật đèn flash trên điện thoại soi cho K. Sau đó K bê đĩa Ketamine cho T1, H2, H1, D sử dụng rồi tự mình sử dụng phần Ketamine còn lại trên đĩa. Khoảng 15 phút sau thì D1 nói S ra ngoài nói chuyện. Thấy vậy, S lấy 01 túi ma túy Ketamine còn lại trong túi quần ra để xuống mặt bàn gần đĩa Ketamine để cho mọi người trong phòng tiếp tục sử dụng rồi đi theo D1 đi ra ngoài phòng hát. H và T2 cũng đi ra khỏi phòng hát. Khi đi ra ngoài phòng hát, H, T2, D1, S thấy có lực lượng Công
5
an đến kiểm tra nên đi về nhà. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 02/9/2019 lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện trong phòng hát dưới tầng hầm của quán K2 có K, H1, H2, D, T1, H3 và T3 đang sử dụng ma túy.
Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh K, Đoàn Văn S, Ngô Văn H1, Lê Hồng H2, Trần Văn T1, Lê Mạnh D, Phan Trung H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 21/10/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Trung H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 22/2024/HS-PT ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Hình phạt chung của hai bản án buộc bị cáo Phan Trung H phải chấp hành là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Nguyễn Minh K 09 (chín) năm tù, Đoàn Văn S 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, Ngô Văn H1 08 (tám) năm tù, Lê Hồng H2 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, Lê Mạnh D 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù; tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/5/2024 và ngày 31/5/2024, các bị cáo Phan Trung H, Trần Văn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T1 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Phan Trung H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại hành vi của bị cáo, bị cáo không góp tiền mua ma tuý, không sử dụng ma tuý mà mục đích ban đầu chỉ vào hát cùng nhóm của K, nên Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là không đúng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo có bố mẹ đẻ là người có công cách mạng, bản thân bị cáo đã tham gia quân đội nhân dân, hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu, con cái còn nhỏ để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, giúp bị cáo sớm trở về với cộng đồng, chăm sóc bố mẹ già và nuôi dạy con cái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Phan Trung H, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân
6
thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo, đã đề nghị HĐXX áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ Điều 342 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Văn T1.
Bị cáo Phan Trung H tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh và giảm hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T1 và Phan Trung H làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T1 xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo T1 là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 342 và điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T1.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phan Trung H thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo H cho rằng, bị cáo không góp tiền, không tham gia đi mua ma tuý, không sử dụng ma tuý và mục đích ban đầu của bị cáo đến quán Karaoke là để hát. Bị cáo không thừa nhận việc ngăn cản bị cáo H1 sử dụng ma tuý, không thừa nhận việc đưa ma tuý cho T3, H3 sử dụng. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về các hành vi phạm tội nêu trên, lời khai ban đầu của bị cáo là khách quan, hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, có đủ căn cứ xác định: Hồi 23 giờ ngày 01/9/2019, tại quán K1, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Minh K, Lê Hồng H2, Lê Mạnh D, Ngô Văn H1, Trần Văn T1, Phan Trung H, Đoàn Văn S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để K, H2, D, H1, T1, S, H3, T3 sử dụng. Trong đó Nguyễn Minh K là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma túy và bị cáo Phan Trung H có hành vi lấy ma túy loại MDMA từ bị cáo K và bị cáo H1 đưa cho chị Đinh Thị Lệ T3 và chị Phạm Thị H3 sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về chất gây nghiện, các bị cáo đã tổ chức cho 08 người sử
7
dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, hành vi của bị cáo Phan Trung H và các đồng phạm khác đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phan Trung H: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo H là người có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử bằng một bản án và hiện bị cáo đang bị đưa ra xét xử về một tội phạm khác, điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Tại phiên toà, bị cáo đề nghị áp dụng các tình tiết như bố mẹ bị cáo là người có công, bản thân bị cáo đã tham gia quân đội để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ này đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Việc bị cáo cho rằng, gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, phải nuôi ba con nhỏ để đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt thì đây không phải là căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Trung H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Phan Trung H.
[5] Về án phí: Bị cáo T1 rút kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo Phan Trung H không được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 342, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Văn T1. Bản án hình sự bản án sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo Trần Văn T1 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 31/7/2024.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Trung H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Trung H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Trung H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp
8
với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 22/2024/HS-PT ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Bị cáo Phan Trung H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Phan Trung H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 31/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Hà |
Bản án số 53/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thịnh và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
