TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG- TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thò Bá Tểnh
- Ông Nguyễn Hoàng Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 104/2024/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lô Thị T, sinh năm 2001 (Có đơn xét xử vắng mặt)
HKTT: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. - Bị đơn: Anh Vi Thanh T1. Sinh năm 1998 (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
Địa chỉ: Bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lô Thị T trình bày:
Tình cảm: Chị T và anh Vi Thanh T1 tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2021. Chị T và anh T1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 22 tháng 01 năm 2021 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với bố mẹ chồng tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2022, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, vợ chồng kết hôn khi còn quá trẻ, không tìm hiểu kỹ nên khi về chung sống thì không hợp nhau, thường xuyên cãi vãi và xúc phạm nhau thẩm tệ, càng chung sống tính cách càng khác nhau nên vợ chồng xảy ra quá nhiều mâu thuẫn, sức chịu đựng của chị T cũng có giới hạn nên vào tháng 6 năm 2022 chị T quyết định sống ly thân với anh T1. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị T có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
Con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung tên cháu là Vi Quốc V, sinh ngày 16/01/2021, hiện nay cháu sống với ông bà nội và anh T1 tại bản bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, nếu vợ chồng ly hôn thì chị T có nguyện vọng con do anh T1 và ông bà nội chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành vì từ nhỏ cháu một mình anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Vi Thanh T1 nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại các biên bản lấy lời khai thì bà Vi Thị Hòa m đẻ của anh Vi Thanh T1 trình bày: Chị T và anh T1 kết hôn vào năm 2021 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn chị T và anh T1 chung sống với gia đình bà H tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chị T và anh T1 hiện nay đã sống ly thân nhau. Về con chung thì chị T và anh T1 có 01 con chung tên cháu là Vi Quốc V, sinh ngày 16/01/2021hiện nay cháu sống với anh T1 và vợ chồng bà H tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi cháu Vi Quốc V được 24 tháng tuổi thì chị T (mẹ cháu V) bỏ đi mà gia đình tôi không hề biết là chị T bỏ đi lúc nào. Cháu Vi Quốc V từ ngày chị T bỏ đi thì chỉ ở với vợ chồng bà H và anh T1, còn chị T chưa bao giờ gửi tiền về hỗ trợ bà H nuôi cháu V nhưng về mặt thời gian, tình cảm, nuôi dưỡng thì không bằng anh T1. Anh T1 đưa đón cháu đi học, cho cháu ăn uống, chăm sóc cháu khi ốm đau. Từ khi chị T để cháu lại cho anh T1 thì chị T chưa về thăm cháu được lần nào. Do cuộc sống khó khăn, ở nhà không có việc làm nên anh T1 xin phép vợ chồng bà H gửi cháu V lại cho vợ chồng bà H chăm sóc, còn anh T1 đi làm với bạn bè ở ngoài Bắc để kiếm tiền nuôi con. Anh T1 mới đi làm xa từ năm 2022, nhưng thỉnh thoảng khoảng 2 đến 3 tháng vẫn về nhà thăm cháu V, còn điện thoại thì gọi thường xuyên. Bà H cũng hỏi ý kiến của anh T1 thì anh T1 trình bày như sau: Về tình cảm: Anh T1 đồng ý ly hôn với chị T; về con chung: Có nguyện vọng nuôi cháu Vi Quốc V và không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Văn bản của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương tống đạt cho anh T1 thì anh T1 đã được bà H báo lại nhưng do anh T1 đi làm ăn xa, phương tiện đi lại khó khăn, công trình xây dựng chưa xong, không xin nghỉ lâu ngày được nên không thể về giải quyết vụ án theo giấy triệu tập của Tòa án.
Kết quả xác minh tại địa phương: Anh Vi Thanh T1 có hộ khẩu thường trú tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có đăng ký kết hôn với chị Lô Thị T tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 22/01/2021 và có một con chung tên cháu là Vi Quốc V, sinh ngày 16/01/2021 hiện nay cháu sống cùng với anh T2 ông bà nội là gia đình bà Vi Thị H1 tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh T1 đi làm ăn xa từ năm 2022, thường xuyên gửi tiền về cho bà Vi Thị H1 để nuôi dưỡng, chăm sóc con cháu V và thỉnh thoảng khoảng 2 đến 3 tháng anh T1 mới về thăm nhà. Chị Lô Thị T có hộ khẩu thường trú ở tại bản C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và chị T không sinh sống tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn Chị Lô Thị T cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị Lô Thị T được ly hôn với anh Vi Thanh T1; Con C: Giao cháu Vi Quốc V cho anh T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị T; tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: Chị T chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Vi Thanh T1 có hộ khẩu thường trú tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Lô Thị T và bị đơn anh Vi Thanh T1 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai không vì trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Mặt khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn mặc dù bị đơn thỉnh thoảng khoảng 2 đến 3 tháng mới về nhà và có liên lạc với gia đình, do đó có căn cứ khẳng định bị đơn cố tình dấu địa chỉ, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn với nhau vào năm 2021 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn tại quyển, số 02 ngày 22/01/2021 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3] Nội dung:
- - Tình cảm: Chị T và anh T1 có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, hai người đã không sống chung với nhau một thời gian dài, điều đó phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Vi Quốc V, sinh ngày 16/01/2021, hiện cháu V sống cùng anh T1 và ông bà nội tại bản Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
- Qua quá trình xác minh tại địa phương, lời khai của bà Vi Thị H1 thì cháu Vi Quốc V từ năm 2022 do anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Lô Thị T bỏ nhà đi làm ăn xa từ năm 2022 và chưa về nhà thăm cháu được lần nào. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Hội đồng xét xử giao cháu Vi Quốc V cho anh T1 tiếp tục tự chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng con chung do anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu V nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [4] Tài sản chung, nợ chung: Chị Lô Thị T chưa yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5] Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Quan hệ Hôn nhân: Chấp nhận chị Lô Thị T được ly hôn với anh Vi Thanh T1.
- Con chung:
- + Giao cháu Vi Quốc V, sinh ngày 16/01/2021 cho anh Vi Thanh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị T;
- - Chị Lô Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Lô Thị T và anh Vi Thanh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí: Buộc chị Lô Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007403 ngày 30/05/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Moong Công Hải |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG- TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG- TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh châp hôn nhân và gia đình
