|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ - ST
Ngày 31/7/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đình Cự
- Ông Nguyễn Hữu Hiển
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị P, sinh năm 1991
Nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ nhận văn bản: Số A, ngõ A Khu Ẩ, Phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền nhận văn bản tố tụng của chị Lò Thị P là ông Dương Đức T, sinh năm 1992 và ông Quan Khắc T1, sinh năm 1998; Đều cùng địa chỉ: Số A, ngõ A Khu Ẩ, Phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Chu Ngọc T2, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa vắng mặt chị P, anh T2, ông T, ông T1. Chị P, anh T2, ông T, ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Lò Thị P trình bày: Chị và anh Chu Ngọc T2 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 23/3/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con chung nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2016. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh Chu Ngọc T2.
Về con chung: Chị và anh T2 có 02 con chung là Chu Gia L, sinh ngày 12/02/2010 và Chu Gia L1, sinh ngày 23/3/2012. Ly hôn, chị nhường quyền nuôi cả 02 con chung cho anh T2. Chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh T2 là 1.500.000 đồng/01 con/01 tháng, hai con là 3.000.000 đồng/02 con/01 tháng, kể từ tháng 7/2024 đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Chu Ngọc T2 khai: Anh và chị Lò Thị P kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 23/3/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2017. Nay chị P xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị P có 02 con chung là Chu Gia L, sinh ngày 12/02/2010 và Chu Gia L1, sinh ngày 23/3/2012. Ly hôn, anh xin nuôi cả 02 con chung và yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con cùng anh là 1.500.000 đồng/01 con/01 tháng, hai con là 3.000.000 đồng/02 con/01 tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn - chị Lò Thị P, bị đơn - anh Chu Ngọc T2 đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị P: Xử cho chị P được ly hôn anh Chu Ngọc T2. Về con chung: Chị P và anh T2 có 02 con chung là Chu Gia L, sinh ngày 12/02/2010 và Chu Gia L1, sinh ngày 23/3/2012. Ly hôn, anh T2 xin nuôi cả 02 con chung, chị P nhường quyền nuôi cả 02 con chung cho anh T2 nên cần giao 02 con chung Chu Gia L và Chu Gia L1 cho anh T2 nuôi dưỡng, chị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh T2 là 1.500.000 đồng/01 con/01 tháng, hai con là 3.000.000 đồng/02 con/01 tháng, kể từ tháng 7/2024 đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, chị P và anh T2 không yêu cầu Toà án giải quyết nên không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị P và anh T2. Chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Anh Chu Ngọc T2 có nơi thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Chị P và anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị P và anh T2.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị P kết hôn với anh T2 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 23/3/2010 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị P xin ly hôn, anh T2 đồng ý. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thì quá trình chung sống chị P và anh T2 có mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị P xin ly hôn anh T2, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy, chị P và anh T2 đã sống ly thân từ năm 2017, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P xử cho chị P được ly hôn anh T2 là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Chị P và anh T2 có 02 con chung là Chu Gia L, sinh ngày 12/02/2010 và Chu Gia L1, sinh ngày 23/3/2012. Ly hôn, anh T2 xin nuôi cả 02 con chung, chị P đồng ý. Hiện anh T2 đang trực tiếp nuôi 02 con chung và 02 con chung Chu Gia L và Chu Gia L1 có nguyện vọng được ở với anh T2. Ủy ban nhân dân xã Đ đề nghị giao 02 con chung cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao con Chu Gia L và Chu Gia L1 cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, anh T2 yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con cùng anh là 1.500.000 đồng/01 con/01 tháng, hai con là 3.000.000 đồng/02 con/01 tháng đến khi con đủ 18 tuổi, chị P đồng ý nên cần chấp nhận. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Chị P và anh T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị P và anh T2.
[3]Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị P được ly hôn anh Chu Ngọc T2.
- Về con chung: Xử giao con chung Chu Gia L, sinh ngày 12/02/2010 và Chu Gia L1, sinh ngày 23/3/2012 cho anh Chu Ngọc T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh T2 là 1.500.000 đồng/01 con/01 tháng, hai con là 3.000.000 đồng/02 con/01 tháng, kể từ tháng 7/2024 đến khi con đủ 18 tuổi.
Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
- Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị P đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003215 ngày 05/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Lan Phương |
Bản án số 53/2024/HNGĐ - ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn N - L
