TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/DS-ST
Ngày: 31-5-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
sử dụng thẻ tín dụng"
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Diệu Tuyết Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Đô.
- Bà Lê Thị Viết Sáu.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ T – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 295/20203/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 246/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần H (M1).
Địa chỉ trụ sở chính: E N, phường L, quận Đ, TP ..
Địa chỉ liên lạc: Tầng A, Tòa nhà TNR, số A N, phường N, Quận A, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q – Chức vụ: Tổng giám đốc ngân hàng Q1 (Theo Giấy ủy quyền số 3897/2020/UQ-TGĐ12 ngày 20/7/2020).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Vũ Công M, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà T, số A N, phường N, Quận A, TP ..
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa: Có mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Công M; Vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Công M trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần H chi nhánh B và bà Nguyễn Thị T1 đã ký kết Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021 có các nội dung sau:
- Hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- Loại thẻ: Daily S.
- Mục đích sử dụng thẻ: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân.
- Thời hạn: 36 tháng.
- Lãi suất: 40%/năm (căn cứ vào loại thẻ và biểu phí niêm yết tại Ngân hàng).
- Lãi suất quá hạn: 145% lãi suất trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng Thương mại cổ phần H đã cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị T1 với hạn mức 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị T1 đã sử dụng từ thẻ tín dụng của Ngân hàng tổng số tiền là 544,672,051 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 395,713,777 đồng, trong đó: số tiền gốc thanh toán là 344,745,125 đồng, số tiền lãi thanh toán là 50,968,652 đồng. Lần cuối cùng bà Nguyễn Thị Thu thanh t cho Ngân hàng là ngày 04/08/2022 với số tiền là 4,125,842 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký. Tạm tính đến ngày 31/05/2024, bà Nguyễn Thị T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là: 377,801,639 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng), trong đó:
| - Nợ gốc | : | 199,926,926 đồng |
| - Nợ lãi trong hạn | : | 145,042,877 đồng |
| - Nợ lãi quá hạn | : | 32,831,836 đồng |
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần H, Ngân hàng kính đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là: 377.801.639 đồng, trong đó (Nợ gốc: 199.926.926 đồng, N lãi trong hạn: 154.042.877 đồng, N lãi quá hạn: 32.831.836 đồng).
Kể từ ngày 01/6/2024, bà Nguyễn Thị T1 còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà Nguyễn Thị T1 cố tình vắng mặt, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 295/TB-TLVA ngày 19/10/2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 295/TB-TA ngày 28/02/2024; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 295A/TB-TA ngày 22/3/2024; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 45/TB-TA ngày 10/4/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-DS ngày 19/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 246/2024/QÐST-DS ngày 10/5/2024.
Tại Biên bản xác minh ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết với đại diện Công an phường H, thành phố P xác định: Bà Nguyễn Thị T1 có sinh sống tại địa phương một thời gian. Hiện nay bà T1 đã bán nhà đi khỏi khu phố C, phường H, thành phố P. Bà T1 chuyển đến địa chỉ nào thì địa phương không biết nên không thể cung cấp được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 377.801.639 đồng (trong đó: Nợ gốc: 199.926.926 đồng, N lãi trong hạn: 145.042.877 đồng, N lãi quá hạn: 32.831.836 đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T1 phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, nợ lãi theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có nơi cư trú tại: Khu phố C, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị T1 cố tình vắng mặt và nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS. Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó Tòa án thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 vẫn không đến Tòa án trình bày lời khai, ý kiến, yêu cầu, cung cấp thông tin tài liệu chứng cứ và không có ý kiến gì phản đối yêu cầu của nguyên đơn cũng như tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại cổ phần H chi nhánh B và bà Nguyễn Thị T1 đã ký kết Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021: Hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); Loại thẻ: Daily Shopping; Mục đích sử dụng thẻ: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân.
Xét thấy, việc bà Nguyễn Thị T1 ký Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021 với Hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, bà Nguyễn Thị T1 là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng Thương mại cổ phần H đã cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị T1 với hạn mức 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị T1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là: 377.801.639 đồng, trong đó (trong đó nợ gốc: 199.926.926 đồng, nợ lãi trong hạn: 145.042.877 đồng, nợ lãi quá hạn: 32.931.836 đồng) và kể từ ngày 01/6/2024, bà Nguyễn Thị T1 còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H.
Buộc bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H số tiền nợ phát sinh từ Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/9/2021 tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 31/5/2024 tổng số tiền là 377.801.639 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 199.926.926 đồng, nợ lãi trong hạn: 145.042.877 đồng, nợ lãi quá hạn: 32.931.836 đồng) và kể từ ngày 01/6/2024, bà Nguyễn Thị T1 còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.
2. Về án phí:
Buộc bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 18.890.081 đồng (Mười tám triệu tám trăm chín mươi nghìn không trăm tám mươi mốt đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H 6.860.000 đồng (Sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0018836 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Diệu Tuyết Trinh |
Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 53/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần H chi nhánh B và bà Nguyễn Thị T1 đã ký kết Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021 có các nội dung sau: - Hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). - Loại thẻ: Daily S. - Mục đích sử dụng thẻ: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân. - Thời hạn: 36 tháng. - Lãi suất: 40%/năm (căn cứ vào loại thẻ và biểu phí niêm yết tại Ngân hàng). - Lãi suất quá hạn: 145% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng Thương mại cổ phần H đã cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị T1 với hạn mức 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/9/2021. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị T1 đã sử dụng từ thẻ tín dụng của Ngân hàng tổng số tiền là 544,672,051 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 395,713,777 đồng, trong đó: số tiền gốc thanh toán là 344,745,125 đồng, số tiền lãi thanh toán là 50,968,652 đồng. Lần cuối cùng bà Nguyễn Thị Thu thanh t cho Ngân hàng là ngày 04/08/2022 với số tiền là 4,125,842 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký. Tạm tính đến ngày 31/05/2024, bà Nguyễn Thị T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là: 377,801,639 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng), trong đó: - Nợ gốc : 199,926,926 đồng - Nợ lãi trong hạn : 145,042,877 đồng - Nợ lãi quá hạn : 32,831,836 đồng Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần H, Ngân hàng kính đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là: 377.801.639 đồng, trong đó (Nợ gốc: 199.926.926 đồng, N lãi trong hạn: 154.042.877 đồng, N lãi quá hạn: 32.831.836 đồng). Kể từ ngày 01/6/2024, bà Nguyễn Thị T1 còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.
