|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/DS-ST Ngày 31-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Đỗ Trọng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mong - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về vệc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP ) (A2); trụ sở: Số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đào Thị L – Nhân viên xử lý nợ của Ngân hàng TMCP Á chi nhánh T1, là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền số 69/UQ-QLN.22 ngày 20/01/2022 của người đại diện theo pháp luật là ông Từ Tiến P - Tổng Giám đốc và Giấy ủy quyền số 996/UQ-CNTL.23 ngày 05/4/2023 của bà Phạm Thị T - Giám đốc xử lý nợ); có mặt;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt A; sinh năm 1988; nơi cư trú: Số D đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị A1, sinh năm 1954; nơi ĐKHKTT: Số D đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; hiện ở tại: Canada; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2023, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Á cấp tín dụng cho anh Nguyễn Việt A căn cứ theo Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN. 465.090221 ngày 09/02/2021 (số tài khoản vay: 329174799): Số tiền cho vay 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích cho vay là tiêu dùng; phương thức cho vay: Cho vay từng lần.; phương thức giải ngân: Chuyển toàn bộ số tiền vay vào tài khoản tiền gửi số 17456147 của anh Nguyễn Việt A tại A2; thời hạn cho vay là 48 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay; lãi suất trong hạn: Tính theo dư nợ ban đầu: 10.00%/năm (LS1). Tính theo dư nợ cho vay thực tế: 19.59%/ năm (LS2); lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi: 10%/ năm. ACB cấp thẻ tín dụng cho anh Nguyễn Việt A căn cứ theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của anh Nguyễn Việt A ký ngày 09/02/2021; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A2; các văn bản khác của anh Nguyễn Việt A ký với A2 về việc sử dụng thẻ tín dụng. Chi tiết như sau: Số thẻ tín dụng: 3567 9500 **** 7325. Ngày cấp: 22/02/2021; loại thẻ: JCB vàng (thẻ tín dụng quốc tế); hạn mức thẻ: 10.000.000 (Mười triệu) đồng; hiệu lực thẻ: Tháng 02/2024. Lãi suất, phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A2.
Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm sau:
- Bảo lãnh của bà Phan Thị A1 theo Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 09/02/2021. Trong đó, bà Phan Thị A1 cam kết đồng ý:
- Cùng trả nợ với Bên được cấp tín dụng (anh Nguyễn Việt A) theo đúng kỳ hạn và các nội dung khác của hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ và các cam kết khác của Bên được cấp tín dụng với A2. A2 có quyền yêu cầu một trong hai bên (Bên cam kết và Bên được cấp tín dụng) hoặc cả hai bên cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Trả thay cho Bên được cấp tín dụng (anh Nguyễn Việt A) các khoản nợ của Bên được cấp tín dụng với A2 khi Bên được cấp ín dụng không thực hiện hoặc thực thiên không đúng, không đầy dủ nghĩa vụ trả nợ.
- Nghĩa vụ trả nợ bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của Bên được cấp tín dụng với A2 (gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phải trả khác) phát sinh trước hoặc sau thời điểm ký Giấy cam kết về việc trả nợ. Số nợ gốc tại một thời điểm không vượt quá 160.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, anh Nguyễn Việt A vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A2. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì:
Ngày 22/12/2021, A2 đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với toàn bộ khoản thẻ chưa thanh toán của thẻ tín dụng số 3567 9500 * * * * 7325.
Ngày 01/06/2022, A2 đã thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn đối với toàn bộ khoản vay chưa thanh toán của Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN. 465.090221.
Tính đến ngày 08/02/2023, anh Nguyễn Việt A còn nợ A2 các khoản sau: Nợ gốc 138.289.299 đồng, lãi trong hạn 10.287.671 đồng, lãi quá hạn: 29.728.598 đồng, phạt chậm trả lãi 2.133.771 đồng. Tổng cộng là 180.439.340 đồng.
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Anh Nguyễn Việt A phải trả cho A2 tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 08/02/2023 là 180.439.340 đồng (Bằng chữ. Một trăm tám mươi triệu, bốn trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm bốn mươi đồng), trong đó nợ gốc: 138.289.229 đồng, lãi trong hạn 10.287.671 đồng, lãi quá hạn 29,728.598 đồng, phạt chậm trả lãi 2.133.771 đồng.
- Anh Nguyễn Việt A còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN. 465.090221, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A2 tính kể từ ngày 09/02/2023 đến ngày trả hết nợ.
- Thứ tự trả nợ như sau: Vốn gốc, phạt chậm trả lãi, lãi quá hạn, lãi trong hạn.
- Bà Phan Thị A1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho anh Nguyễn Việt A theo Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 09/02/2021.
Đến ngày 29/5/2024, anh Nguyễn Việt A đã trả hết khoản nợ gốc. Do vậy, Ngân hàng TMCP Á yêu cầu khởi kiện buộc anh Nguyễn Việt A thanh toán các khoản tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.
- Bị đơn anh Nguyễn Việt A trình bày:
Anh có ký Hợp đồng tín dụng số SHP.CN. 465.090221 ngày 09/02/2021 (số tài khoản vay: 329174799). Theo đó số tiền vay là 150 triệu đồng. Mục đích cho vay là tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình, không có tài sản bảo đảm.
Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Phương thức giải ngân là chuyển toàn bộ số tiền vay vào tài khoản tiền gửi số 17456147 của anh. Thời hạn cho vay là 48 tháng kể từ ngày kế tiếp của ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất trong hạn: Tính theo dư nợ ban đầu: 10.00%/năm (LS1). Tính theo dư nợ cho vay thực tế: 19.59%/ năm (LS2). Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi: 10%/ năm. Anh đã được cấp thẻ tín dụng ngày cấp là ngày 22/02/2021, hạn mức thẻ là 10 triệu đồng, hiệu lực thẻ là tháng 02/2024. Lãi suất và phí theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A2. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ, anh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A2 do có khó khăn về kinh tế và công việc, do dịch bệnh nên anh bị chấm dứt hợp đồng lao động, không có việc làm ổn định nên anh không thanh toán được khoản nợ. Ngày 22/12/2021, A2 đã chuyển toàn bộ khoản nợ sang nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với toàn bộ khoản tiền chưa thanh toán trong thẻ tín dụng của anh. Đến ngày 18/01/2024, dư nợ cả gốc và lãi của anh là 126.125.000 đồng. Khoản nợ trên được bảo lãnh bởi mẹ của anh là bà Phan Thị A1 theo giấy cam kết về việc trả nợ ngày 09/02/2021. Mẹ anh đã cam kết cùng trả nợ với anh theo đúng kỳ hạn và các nội dung khác của hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ và các cam kết khác của anh với A2. A2 có quyền yêu cầu một trong hai bên cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trả thay cho anh các khoản nợ của anh với A2. Nghĩa vụ trả nợ bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của anh với A2 phát sinh trước hoặc sau thời điểm ký cam kết về việc trả nợ. Hiện mẹ anh đang chữa bệnh tại Canada. Anh không biết địa chỉ cụ thể tại Canada của bà A1 do bà A1 không cung cấp. Bà A1 vẫn thường xuyên liên lạc bằng điện thoại về cho anh. Anh Việt A đã thông báo cho bà A1 biết về việc Tòa án đang giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Á và anh Việt A nhưng bà A1 không có ý kiến gì.
Tại thời điểm ký Giấy cam kết trả nợ ngày 09/02/2021 thì mẹ anh có mặt ở Việt Nam, vì mẹ anh cứ đi đi lại lại giữa Việt Nam và Canada nhiều lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 22/02/2023. Chữ ký, chữ viết trong Giấy cam kết trả nợ nêu trên đúng là chữ ký, chữ viết của mẹ anh. Anh nhận trách nhiệm về khoản nợ này và anh sẽ cố gắng trong thời gian sớm nhất thanh toán khoản nợ trên cho ngân hàng. Tuy nhiên, sau đó anh Việt A thay đổi lời khai như sau: Thời điểm ngày 09/02/2021, bà Phan Thị A1 không có mặt ở Việt Nam, anh khẳng định chữ ký, chữ viết trong Giấy cam kết trả nợ nêu trên không phải là chữ ký, chữ viết của mẹ anh.
Đến ngày 29/5/2024, anh Nguyễn Việt A đã trả hết khoản nợ gốc. Anh Việt A đề nghị Ngân hàng Á miễn toàn bộ số tiền lãi do anh có hoàn cảnh khó khăn.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị A1: Bà Phan Thị A1 hiện đang ở Canada. Theo thông tin cung cấp của Cục Q thì bà Phan Thị A1 đã xuất cảnh 11 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 22/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tòa án đã yêu cầu anh Việt A cung cấp địa chỉ của bà Phan Thị A1 ở Canada, song anh Việt A không cung cấp được.
Tại phiên tòa, A2 vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, đề nghị anh Nguyễn Việt A phải thanh toán tổng số tiền lãi còn lại đến ngày xét xử sơ thẩm (31/5/2024) là 78.463.554 đồng. Trong đó: Tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng là 71.292.091 đồng: Lãi trong hạn 10.287.671 đồng, lãi quá hạn 57.397.361 đồng, phạt chậm trả lãi 3.607.059 đồng. Tiền lãi theo thẻ tín dụng là 7.171.463 đồng. Trường hợp anh Nguyễn Việt A thanh toán được ngay tại phiên tòa thì Ngân hàng sẽ miễn một phần lãi và chỉ yêu cầu thanh toán là 25.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A2): Buộc ông Nguyễn Việt A phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến hết ngày 31/5/2024 là 78.463.554 đồng, cụ thể: tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng là 71.292.091 đồng (trong đó lãi trong hạn 10.287.671 đồng, lãi quá hạn 57.397.361 đồng, phạt chậm trả lãi 3.607.059 đồng), tiền lãi theo thẻ tín dụng là 7.171.463 đồng.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Việt A không thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà Phan Thị A1 phải trả nợ thay cho bị đơn khi bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán.
Ngoài ra đề nghị tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Á khởi kiện anh Nguyễn Việt A phải trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa hai bên, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng“. Trong vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị A1 hiện đang ở nước ngoài. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Việt A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị A1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Việt A và bà Phan Thị A1.
- Về nội dung:
- [3] Xét các hợp đồng đã ký kết giữa A2 và anh Nguyễn Việt A: Giữa A2 và anh Nguyễn Việt A ký kết các hợp đồng sau: Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN.465.090221 ngày 09/02/2021: Số tiền cho vay 150.000.000 đồng, mục đích cho vay: Tiêu dùng, không có tài sản bảo đảm; phương thức cho vay: Cho vay từng lần; thời hạn cho vay: 48 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay; lãi suất trong hạn: 10.00%/năm tính theo dư nợ ban đầu, 19.59%/năm tính theo dư nợ cho vay thực tế; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm. Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 22/02/2021 A2 cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Việt A, số thẻ: 35679500****7325, hạn mức thẻ: 10.000.000 đồng, hiệu lực thẻ: tháng 02/2024. Việc ký hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện. Hình thức của các Hợp đồng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Mục đích, nội dung của Hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp các quy định tại Điều 117, 121, 122, 124 Bộ luật Dân sự. Do đó, các Hợp đồng nêu trên có hiệu lực thực hiện đối với các bên.
- [4] Xét yêu cầu thanh toán các khoản tiền còn nợ: Thực hiện Hợp đồng, A2 đã giải ngân khoản tiền nêu trên cho anh Nguyễn Việt A và đã cấp thẻ tín dụng cho anh Nguyễn Việt A sử dụng. Quá trình thực hiện, anh Nguyễn Việt A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A2 nên ngày 22/12/2021, A2 đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với toàn bộ khoản thẻ chưa thanh toán của thẻ tín dụng số 3567 9500 * * * * 7325; ngày 01/06/2022, A2 đã thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn đối với toàn bộ khoản vay chưa thanh toán của Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN. 465.090221. Tính đến ngày 31/5/2024, anh Nguyễn Việt A đã thanh toán hết toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng, chỉ còn khoản tiền lãi là 78.463.554 đồng. Trong đó: Tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng là 71.292.091 đồng: Lãi trong hạn 10.287.671 đồng, lãi quá hạn 57.397.361 đồng, phạt chậm trả lãi 3.607.059 đồng. Tiền lãi theo thẻ tín dụng là 7.171.463 đồng. Trong Hợp đồng tín dụng và cam kết sử dụng thẻ đã quy định cụ thể các khoản tiền phí, lãi, anh Nguyễn Việt A chấp nhận các khoản tiền này. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, buộc anh Nguyễn Việt A phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ khoản tiền lãi còn lại như trên.
- [5] Đối với cam kết trả nợ của bà Phan Thị A1: Anh Việt A khẳng định chữ ký, chữ viết trong Giấy cam kết trả nợ ngày 09/02/2021 không phải là của bà Phan Thị A1 do thời điểm đó bà A1 không có mặt ở Việt Nam. Theo kết quả trả lời của Cục Q thể hiện: Bà Phan Thị A1 xuất cảnh ngày 05/02/2020 và nhập cảnh sau đó là ngày 19/9/2022. Như vậy, tại thời điểm ký Giấy cam kết nêu trên, bà A1 không có mặt tại Việt Nam. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà A1 trả nợ thay anh Việt A trong trường hợp anh Việt A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán.
- [6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- [7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, các điều 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 117, 119, 121, 122, 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Á:
Buộc anh Nguyễn Việt A phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền lãi còn lại tính đến hết ngày 31/5/2024 là 78.463.554 (bảy mươi tám triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm năm mươi tư) đồng. Trong đó: Tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng là 71.292.091 (bảy mươi mốt triệu hai trăm chín hai nghìn không trăm chín mươi mốt) đồng: Lãi trong hạn 10.287.671 (mười triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt) đồng, lãi quá hạn 57.397.361 (năm mươi bảy triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi mốt) đồng, phạt chậm trả lãi 3.607.059 (ba triệu sáu trăm linh bảy nghìn không trăm năm mươi chín) đồng. Tiền lãi theo thẻ tín dụng là 7.171.463 (bảy triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn bốn trăm sáu mươi ba) đồng.
Kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án (anh Nguyễn Việt A) còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Á.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á về việc yêu cầu bà Phan Thị A1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho anh Nguyễn Việt A theo Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 09/02/2021.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Việt A phải nộp 3.923.178 đồng (ba triệu chín trăm hai mươi ba nghìn một trăm bảy mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 4.510.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0000436 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Trả lại Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.210.000 (bốn triệu hai trăm mười nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THADS thành phố Hải Phòng;
- TANDTP Hải Phòng;
- Lưu: VP; hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 53/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐTD
