TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/05/2024
V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lại Thiện Phong
2/ Ông Danh On
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 05 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 336/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hòa L, sinh năm 1974 (Vắng mặt không có lý do)
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà N và ông L được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán trên tinh thần tự nguyện vào năm 1999 và đến ngày 24/08/2015 thì bà N và ông L có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ khi cưới nhau cho đến cách nay khoảng 03 năm (khoảng đầu năm 2020) thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, ông L hay ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện chửi bới, đánh đập bà N. Vào tháng 02 năm 2022 bà N đã có nộp đơn xin ly hôn với ông L và được Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông L có năn nỉ bà N rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn và được bà N đồng ý. Tuy nhiên từ khi rút đơn khởi kiện và quay về chung sống với nhau đến nay thì ông L vẫn không thay đổi tính tình, vẫn hay ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện chửi bới, đánh đập bà N. Mặc dù hiện tại bà N và ông L vẫn sống chung nhà nhưng cả hai rất ít nói chuyện với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay bà N nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông L được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà N, ông L có hai người con chung là chị Nguyễn Lê T, sinh ngày 24/12/1999 và em Nguyễn Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/06/2008. Đối với chị Nguyễn Lê T hiện tại đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với em Nguyễn Lê Ngọc T1 thì khi ly hôn, tùy theo nguyện vọng của con nếu con muốn sống cùng với bà N thì bà nuôi, bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Nếu con muốn sống cùng với ông L thì bà N đồng ý để con sống cùng với ông L.
Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà N không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Hòa L trình bày:
Về hôn nhân: Ông L thống nhất với phần trình bày của bà N về thời gian vợ chồng tổ chức đám cưới và thời gian vợ chồng đăng ký kết hôn. Ông L xác định quá trình chung sống vợ chồng không có phát sinh mâu thuẩn gì Hiện tại vợ chồng ông L, bà N vẫn sống chung nhà với nhau. Nay bà N khởi kiện xin được ly hôn với ông thì ông không đồng ý.
Về con chung: Ông L thống nhất với phần trình bày của bà N về quan hệ con chung, trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì về con chung ông không có ý kiến.
Về tài sản: Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì về tài sản ông L không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay nguyên đơn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Hòa L.
- + Về con chung: Ghi nhận nguyện vọng của em Nguyễn Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/06/2008 muốn được sống chung với mẹ là bà Lê Thị N khi cha, mẹ ly hôn.
- Tiếp tục giao em Nguyễn Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/06/2008 cho bà Lê Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi vợ chồng bà N, ông L ly hôn. Ông L có quyền tới lui thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
- + Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Ngoài ra bà N còn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn bà Lê Thị N khởi kiện xin được ly hôn và nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Hòa L. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Về nội dung vụ án:
[2] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị N và ông Nguyễn Hòa L, thấy rằng:
Bà N và ông L có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 24/08/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa ông, bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà N xác định sau khi đám cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến cách nay 03 năm (khoảng đầu năm 2020) thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, ông L hay ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện chửi bới đánh đập bà N. Vào tháng 02 năm 2022 bà N có nộp đơn xin ly hôn với ông L và được Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông L có năn nỉ bà N rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn và được bà N đồng ý. Tuy nhiên sau khi rút lại đơn khởi kiện để quay về sống chung với ông L đến nay thì ông L vẫn không thay đổi tính tình, vẫn hay ghen tuông vô cớ kiếm chuyện chửi bới bà N. Mặc dù vợ chồng vẫn sống chung nhà, tuy nhiên bà N và ông L rất ít nói chuyện với nhau, không ai quan tâm đến ai. Về phía ông L xác định quá trình chung sống vợ chồng không có phát sinh mâu thuẩn gì và hiện tại vợ chồng vẫn sống chung nhà với nhau.
Tại biên bản xác minh ngày 23/04/2024 đối với ông Lâm Biểu P là trưởng ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thì Tòa án được ông P cho biết, cuộc sống giữa vợ chồng bà N, ông L thường xuyên xảy ra cự cãi, nhiều lần bà N trình báo với chính quyền địa phương về việc ông L nhậu say trở về nhà kiếm chuyện chửi bới bà N, đập đồ đạc trong nhà tuy nhiên ông P không rõ nguyên nhân dẫn đến vợ chồng bà N, ông L xảy ra mâu thuẩn.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân hạnh phúc phải được xây dựng trên nền tảng vợ chồng cùng yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vào năm 2022, bà N đã có nộp đơn xin ly hôn với ông L tại Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng sau đó bà N có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nay bà N khởi kiện lại xin được ly hôn với ông L và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hiện nay bà N một mực cương quyết xin được ly hôn với ông L, không đồng ý hòa giải đồng thời qua xác minh chính quyền địa phương thì Tòa án cũng được biết giữa vợ chồng bà N, ông L thường xuyên xảy ra cự cãi, bà N nhiều lần trình báo với chính quyền địa phương về việc ông L nhậu say trở về nhà kiếm chuyện chửi bới, đập đồ đạc trong nhà từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông L đã mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị N, cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Hòa L.
[3] Về con chung: Bà N và ông L thống nhất xác định quá trình chung sống vợ chồng có hai người con chung là chị Nguyễn Lê T, sinh ngày 24/12/1999 và em Nguyễn Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/06/2008. Đối với chị Nguyễn Lê T hiện tại đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên Hội đồng xét xử không đặc ra xem xét. Đối với em Nguyễn Lê Ngọc T1 hiện tại đang sống cùng với vợ chồng ông L, bà N. Quá trình giải quyết vụ án em T1 có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ là bà Lê Thị N khi cha mẹ ly hôn. Do đó, cần tiếp tục giao em Nguyễn Lê Ngọc T1 cho bà Lê Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi vợ chồng bà N, ông L ly hôn là phù hợp. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
[4] Về tài sản: Bà N và ông L đều không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử cũng không đặc ra xem xét.
[5] Về án phí: Buộc bà Lê Thị N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng. Ông Nguyễn Hòa L không phải chịu án phí.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị N. Cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Hòa L.
- Về quan hệ con chung:
Ghi nhận nguyện vọng của em Nguyễn Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/06/2008 muốn được sống chung với mẹ là bà Lê Thị N khi cha, mẹ ly hôn.
Tiếp tục giao em Nguyễn Lê Ngọc T1, sinh ngày 22/06/2008 cho bà Lê Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi vợ chồng bà N, ông L ly hôn. Ông L có quyền tới lui thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
- Về quan hệ tài sản: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Hòa L đều không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bà Lê Thị N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch số tiền là 300.000 đồng. Bà N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0007406 ngày 07/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Tú A |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N với Nguyễn Hòa L
