TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 12 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạt –Thẩm phán.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Dũng Tấn;
2. Ông Nguyễn Xuân Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TH, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ thục thông thường vụ án thụ lý số: 137/2023/TLST - HNGĐ ngày 08/8/2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/11/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QÐST-HNGĐ ngày 28/11/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn TH, xã TH2, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; Chị N vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử văng mặt).
2. Bị đơn: Anh Tống Văn T, sinh năm 1978; Địa chỉ : Thôn TH, xã TH2, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; Anh T vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2023, bản tự khai ngày 13/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị N trình bày:
Giữa chị Hoàng Thị N và bị đơn là anh Tống Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH2, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 31/7/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi lộn nhau, vợ chồng sống không hạnh phúc, từ tháng 5 năm 2023 vợ chồng sống ly thân mỗi người mỗi nơi; Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, chị N đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Tống Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Tống Gia Tuấn sinh ngày 08/5/2017; Ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.
Về tài sản và công nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã thông báo triệu tập hợp lệ anh Tống Văn T nhiều lần đến Tòa án làm việc và tham gia phiên tòa nhưng anh T không đến nên không có bản khai, không có ý kiến của anh T.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Trọng quá trình từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 6, Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn giữa chị N và anh T, về giao nuôi con: Giao chị N nuôi dưỡng cháu Tống Gia Tuấn, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N; Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy;
[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Tống Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu trường trú tại huyện TH vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TH theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh T lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa do đó căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N và anh T.
[2]. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Tống Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều cấm của luật hôn nhân gia đình như vậy là hôn nhân hợp pháp. Thấy rằng quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hai bên đã sống ly thân từ năm tháng 5 năm 2021 đến nay, hai bên không ngồi lại được với nhau tại Tòa án để tiến hành hòa giải, anh T nhiều lần trực tiếp nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến không đến Tòa án làm việc, bỏ mặc không có ý kiến níu kéo hôn nhân với chị N trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án; Điều này chứng tỏ cuộc sống vợ chồng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp.
[3]. Về con chung: Chị N khai vợ chồng có 01 con chung là cháu Tống Gia Tuấn sinh ngày 08/5/2017, chị N xuất trình cho Tòa án bản sao giấy khai sinh của cháu Tống Gia Tuấn sinh ngày 08/5/2017, có ghi họ tên bố là anh Tống Văn T họ tên mẹ là chị Hoàng Thị N, như vậy đủ cơ sở khẳng định cháu Tống Gia Tuấn sinh ngày 08/5/2017 là con chung của chị N và anh T. Theo xác minh lâu nay cháu Tuấn đang ở với chị N, anh T có động thái bỏ mặc, không có ý kiến gì về việc nuôi con chung, nên giao cháu Tuấn cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.
[4]. Về tài sản và công nợ: Trong vụ án này, Hội đồng xét xử không biết được nội dung yêu cầu của anh T, đối với phần tài sản giữa anh T và chị N nếu có tài sản sẽ tự bàn bạc thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn khởi kiện.
[5]. Về án phí: Chị N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 9, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Tống Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung là Tống Gia Tuấn sinh ngày 08/5/2017 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tống Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở; Không lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2022/0000591 ngày 08/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TH, chị N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị N và anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Đạt |
Bản án số 53/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 53/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
