|
TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ————————— |
|
Bản án số: 53/2024/DS-ST Ngày: 30/7/2024 “V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phan Thị Nga
- Ông Nguyễn Văn Kình
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2024/DS - ST ngày 01 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2024/QĐST-DS ngày 05/7/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (V);
địa chỉ: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T - Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thiều Quang H - Giám đốc Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh H1.
Ông H ủy quyền tham gia tố tụng cho: Ông Hoàng D - Chức vụ: Trưởng phòng G - Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh H1.
(Theo Giấy ủy quyền số 155/UQ-HKI.HBT ngày 11/3/2024).
(Ông D có mặt).
* Bị đơn:
- Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1988
- Bà Trần Hoài T1, sinh năm 1990
Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện ở tại: Đ, Tổ dân phố A, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
(Ông L, bà T1 - Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện ngày 11/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 16/02/2022 Ngân hàng TMCP N (Viết tắt là V) cùng ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 đã ký kết Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-MN ngày 16/02/2022, với tổng hạn mức cấp tín dụng là 31.000.000.000 đồng (Ba mươi mốt tỷ đồng), cụ thể như sau:
-
Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022:
- + Số tiền cho vay: 15.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng;
- + Phương thức cho vay: Cho vay từng lần;
- + Mục đích vay: Thanh toán một phần tiền sửa nhà tại: Số B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- + Lãi suất vay theo từng thời kỳ như sau:
- - Giai đoạn 1: Từ ngày 18/02/2022 đến ngày 17/02/2023 lãi suất cố định là 6,29%/năm;
- - Giai đoạn 2: Từ ngày 18/02/2023 đến 28/8/2023 lãi suất cố định là 11,5%/năm;
- - Giai đoạn 3: Từ ngày 29/8/2023 đến ngày 27/11/2023 lãi suất cố định là 11,0%/năm;
- - Giai đoạn 4: Từ ngày 28/11/2023 đến ngày 08/03/2024 lãi suất cố định là 9,0%/năm;
-
Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-MN ngày 16/02/2022:
- + Số tiền cho vay: 16.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng;
- + Phương thức cho vay: Cho vay từng lần;
- + Mục đích vay: thanh toán bù đắp một phần tiền mua đất ở tại: Thửa đất số: 385, Tờ bản đồ số 101, tổ B phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
- + Lãi suất vay theo từng thời kỳ như sau:
- - Giai đoạn 1: Từ ngày 18/02/2022 đến ngày 17/02/2023 lãi suất cố định là 6,29%/năm
- - Giai đoạn 2: Từ ngày 18/02/2023 đến ngày 28/8/2023 lãi suất cố định là 11,5%/năm
- - Giai đoạn 3: Từ ngày 29/8/2023 đến ngày 27/11/2023 lãi suất cố định là 11,0%/năm
- - Giai đoạn 4: Từ ngày 28/11/2023 đến ngày 08/03/2024 lãi suất cố định là 9,0%/năm
-
Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022: (Details repeated in OCR, capturing only the distinct rate periods from Page 3 for 20/2022)
- + Số tiền cho vay: 15.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng;
- + Phương thức cho vay: Cho vay từng lần;
- + Mục đích vay: Thanh toán một phần tiền sửa nhà tại: Số B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- + Lãi suất vay theo từng thời kỳ như sau:
- - Giai đoạn 1: Từ ngày 18/02/2022 đến ngày 17/02/2023 lãi suất cố định là 6,29%/năm;
- - Giai đoạn 2: Từ ngày 18/02/2023 đến 28/8/2023 lãi suất cố định là 11,5%/năm;
- - Giai đoạn 3: Từ ngày 29/8/2023 đến ngày 27/11/2023 lãi suất cố định là 11,0%/năm;
- - Giai đoạn 4: Từ ngày 28/11/2023 đến ngày 08/03/2024 lãi suất cố định là 9,0%/năm;
-
Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-MN ngày 16/02/2022: (Detailed rates from Page 3)
- + Số tiền cho vay: 16.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng;
- + Phương thức cho vay: Cho vay từng lần;
- + Mục đích vay: thanh toán bù đắp một phần tiền mua đất ở tại: Thửa đất số: 385, Tờ bản đồ số 101, tổ B phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
- + Lãi suất vay theo từng thời kỳ như sau:
- - Giai đoạn 1: Từ ngày 18/02/2022 đến ngày 17/02/2023 lãi suất cố định là 6,29%/năm
- - Giai đoạn 2: Từ ngày 18/02/2023 đến ngày 30/04/2023 lãi suất cố định là 11,7%/năm
- - Giai đoạn 3: Từ ngày 01/05/2023 đến ngày 17/05/2023 lãi suất cố định là 11,2%/năm.
- - Giai đoạn 4: Từ ngày 18/05/2023 đến ngày 17/08/2023 lãi suất cố định là 11,0%/năm.
- - Giai đoạn 5: Từ ngày 18/08/2023 đến ngày 17/11/2023 lãi suất cố định là 10,8%/năm
- - Giai đoạn 6: Từ ngày 18/11/2023 đến ngày 08/03/2024 lãi suất cố định là 9,0%/năm
Các tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ tín dụng và các nghĩa vụ khác theo các Hợp đồng cho vay trên của ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1 tại V là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/5/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/5/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
Khoản vay của khách hàng được giải ngân theo 02 Giấy nhận nợ kèm theo 02 Hợp đồng cho vay, tổng số tiền là: 31.000.000.000 VNĐ (Ba mươi mốt tỷ đồng). Thời hạn cho vay; mục đích sử dụng vốn vay; lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất cho vay quá hạn được thể hiện cụ thể trong từng Giấy nhận nợ.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông L, bà T1 đã trả được 1.729.159.906 đồng tiền nợ gốc và 2.518.845.822 tiền nợ lãi.
Đến ngày 06/4/2023, khoản vay của ông L, bà T1 đã bị chuyển sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay và các Giấy nhận nợ tại V, đồng thời V nhiều lần làm việc và gửi Công văn thông báo nợ, thông báo xử lý tài sản bảo đảm để yêu cầu ông L, bà T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với V.
Sau đó, đến ngày 27/6/2023 ông L, bà T1 tiếp tục trả V 113.979.714 đồng tiền nợ gốc và 169.496.986 đồng tiền nợ lãi. Tuy nhiên, sau đó ông L, bà T1 không còn khả năng trả nợ và dừng trả nợ từ thời điểm đó đến ngày 25/02/2024. Đến ngày 26/02/2024 ông L, bà T1 đã thanh toán trả V số tiền 50.000.000 đồng, Ngân hàng đã trừ vào số tiền nợ gốc của ông L, bà T1.
Tạm tính đến hết ngày 11/6/2024, ông L, bà T1 còn nợ V số tiền là 33.008.734.525 đồng (Ba mươi ba tỷ, không trăm linh tám triệu, bảy trăm ba mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 29.270.840.094 đồng;
- + Nợ lãi qua hạn là 3.584.538.230 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả là 153.356.201 đồng;
Nay để đảm bảo quyền lợi của V, V khởi kiện ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Buộc ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 phải thanh toán trả V toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng cấp tín dụng nêu trên, với tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 11/6/2024 là 33.008.734.525 đồng (Ba mươi ba tỷ, không trăm linh tám triệu, bảy trăm ba mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 29.270.840.094 đồng;
- + Nợ lãi quá hạn là 3.584.538.230 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả là 153.356.201 đồng;
- Ông L, bà T1 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên, kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi ông L1, bà T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho V.
- Nếu ông L và bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì V thông qua V Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V, tài sản bảo đảm là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho V thì V thông qua V Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn - ông Nguyễn Bảo L trình bày:
Ông xác nhận ông và vợ ông là bà Trần Hoài T1 có ký kết Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và Hợp đồng cho vay 20/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022, với tổng hạn mức cấp tín dụng là 31.000.000.000 đồng (Ba mươi mốt tỷ đồng).
Mục đích vay: Thanh toán một phần tiền sửa nhà tại số B M, T, thành phố H, tỉnh Hải Dương và thanh toán bù đắp một phần tiền mua đất ở tại thửa đất số 385, tờ bản đồ số 101, tổ B phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
Nay Ngân hàng V khởi kiện vợ chồng ông đến Tòa án quận H, buộc vợ chồng ông phải thanh toán trả Ngân hàng V số tiền tạm tính đến 08/03/2024 là 32.185.290.323 đồng, trong đó: Nợ gốc là 29.270.840.094 đồng; nợ lãi là 2.819.486.683; lãi phạt quá hạn là 94.963.546 đồng.
Ông đề nghị Ngân hàng V tạo điều kiện về thời gian cho vợ chồng ông được trả số tiền nợ gốc là 29.270.840.094 đồng và một phần nợ lãi. Gia đình ông sẽ thanh toán ngay một lần số tiền trên.
Trường hợp Ngân hàng V không đồng ý thì ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng V trình bày:
Ngân hàng V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày ở trên và đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc bị đơn ông L, bà T1 phải thanh toán trả Ngân hàng V tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi theo các Hợp đồng cho vay đã ký giữa hai bên, số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 33.397.752.508 đồng (Ba mươi ba tỷ, ba trăm chín mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm linh tám đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 29.270.840.094 đồng;
- + Nợ lãi quá hạn là 3.938.194.133 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả là 188.718.281 đồng;
- Ông L, bà T1 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên, kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi ông L1, bà T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho V và giữ nguyên ý kiến về việc yêu cầu Tòa án tuyên cho Ngân hàng V được quyền kê biên, xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng V.
- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho V thì V thông qua V Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án, ông L có đến Tòa án trình bày ý kiến vào ngày 17/4/2024. Sau đó ông L, bà T1 vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt các Văn bản, Thông báo, Quyết định hợp lệ cho ông L, bà T1. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1, tại phiên tòa lần 2 bị đơn ông L, bà T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Xét, Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 giữa Ngân hàng V và bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng, do đó có hiệu lực thi hành đối với các bên. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông L, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết theo Hợp đồng đã ký nên Ngân hàng V đã nộp Đơn khởi kiện yêu cầu ông L, bà T1 trả số tiền nợ gốc, lãi lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, yêu cầu phát mại các tài sản bảo đảm nêu trên của Ngân hàng V, nhận thấy:
Các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022 được các bên tự nguyện ký kết, thực hiện đúng hình thức và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Bằng tài sản hợp pháp của mình, ông L, bà T1 thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông bà. Do đó, Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Trường hợp ông L, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng V có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng V. Trường hợp không đủ, ông L và bà T1 tiếp tục có trách nhiệm trả hết nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thời hiện khởi kiện và thủ tục tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền:
Tại thời điểm nộp Đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V) xuất trình tài liệu chứng cứ, chứng minh ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1 có thỏa thuận với Ngân hàng về việc nếu có tranh chấp sẽ đưa vụ việc ra khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền là nơi Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh H1 có trụ sở tại B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về quan hệ pháp luật:
Ngân hàng TMCP N (V) khởi kiện ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1 yêu cầu Tòa án tuyên ông L, bà T1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay đã ký giữa V với ông L và bà T1. Số tiền tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng cho vay đã ký giữa các bên, do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng cho vay” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Về thời hiện khởi kiện:
Ngân hàng TMCP N (V) và ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1 ký Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-MN ngày 16/02/2022. Tại các Giấy nhận nợ kèm theo, các bên thỏa thuận về ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 18/02/2042. Quá trình thực hiện Hợp đồng, do ông L, bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/03/2024 Ngân hàng V nộp đơn khởi kiện ông L, bà T1 đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm. Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, vụ án còn thời hiệu khởi kiện.
1. 4. Về thủ tục tố tụng:
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1: Ông L và bà T1 là bị đơn trong vụ án có hộ khẩu thường trú tại Đ, tổ dân phố A, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo đến Tòa làm việc và các Quyết định, Thông báo khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập ông L, bà T1 đến Tòa án giải quyết vụ án dân sự, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Đơn khởi kiện của Ngân hàng V. Tuy nhiên, ông L có đến Tòa án một lần, sau đó ông L, bà T1 vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án. Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 08h30 ngày 05/7/2024 nhưng ông L và bà T1 vắng mặt không có lý do. Tòa án đã Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử vụ án vào hồi 08h30' ngày 30/7/2024. Tại phiên tòa hôm nay, ông L, bà T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông L, bà T1 là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung vụ án:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N (V) buộc bị đơn ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1 phải thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng cho vay và các Giấy nhận nợ nhận thấy:
Ngày 16/02/2022 Ngân hàng TMCP N (V) do bà Bùi Thị Tuyết L2, Phó Giám đốc V - Chi nhánh H1 là đại diện và ông Nguyễn Bảo L, bà Trần Hoài T1 ký Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-MN ngày 16/02/2022 với số tiền Ngân hàng V cho ông L, bà T1 vay tổng hạn mức cấp tín dụng là 31.000.000.000 đồng (Ba mươi mốt tỷ đồng). Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều công nhận về việc ký kết Hợp đồng cho vay, các Giấy nhận nợ là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, đúng chủ thể tham gia ký kết Hợp đồng nên các Hợp đồng cho vay trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
2.2. Sau khi ký kết các Hợp đồng cho vay trên, ngày 18/02/2022 Ngân hàng V đã giải ngân cho ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 tổng số tiền là 31.000.000.000 đồng (Ba mươi mốt tỷ đồng) theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022 kèm theo Hợp đồng số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022 kèm theo Hợp đồng số 20/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022, tổng số tiền ông L, bà T1 nhận nợ là 31.000.000.000 đồng (Ba mươi mốt tỷ đồng). Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông L và bà T1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng cho vay. V đã gửi nhiều Thông báo, Công văn yêu cầu ông L và bà T1 trả nợ, hoặc bàn giao tài sản bảo đảm cho V xử lý theo đúng quy định, nhưng ông L và bà T1 không thực hiện theo yêu cầu của V. Đối chiếu với khoản nợ gốc V đã giải ngân và khoản tiền mà ông L, bà T1 đã trả nợ cho V, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn V là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.3. V yêu cầu ông L, bà T1 phải trả số tiền nợ lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả tạm tính đến ngày 30/7/2022 là: 4.126.912.414 đồng, trong đó tiền lãi quá hạn là 3.938.194.133 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 188.718.281 đồng.
Xét, Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN 16/02/2022 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022, hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay giai đoạn 1 từ ngày 18/02/2022 đến ngày 17/02/2023 lãi suất cố định là 6,29%/năm, giai đoạn 2 từ ngày 18/02/2023 đến 28/8/2023 lãi suất cố định là 11,5%/năm; giai đoạn 3 từ ngày 29/8/2023 đến ngày 27/11/2023 lãi suất cố định là 11,0%/năm; giai đoạn 4 từ ngày 28/11/2023 đến ngày 08/03/2024 lãi suất cố định là 9,0%/năm.
Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-MN ngày 16/2/2022 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022, hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay giai đoạn 1 từ ngày 18/02/2022 đến ngày 17/02/2023 lãi suất cố định là 6,29%/năm, giai đoạn 2 từ ngày 18/02/2023 đến ngày 30/4/2023 lãi suất cố định là 11,7%/năm, giai đoạn 3 từ ngày 01/5/2023 đến ngày 17/5/2023 lãi suất cố định là 11,2%/năm, giai đoạn 4 từ ngày 18/5/2023 đến ngày 17/8/2023 lãi suất cố định là 11,0%/năm, giai đoạn 5 từ ngày 18/8/2023 đến ngày 17/11/2023 lãi suất cố định là 10,8%/năm, giai đoạn 4 từ ngày 18/11/2023 đến ngày 08/03/2024 lãi suất cố định là 9,0%/năm.
Lãi suất áp dụng đối với Dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi cho vay trong hạn quy định trong Hợp đồng. Lãi suất chậm trả trong trường hợp bên vay không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại Hợp đồng cho vay, bên vay phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất bằng 5%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng thời gian chậm trả hoặc mức lãi suất chậm trả khác theo quy định của pháp luật trong từng thời kỳ. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của V xác nhận tổng số nợ lãi đã tính theo đúng thỏa thuận trên.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc thỏa thuận lãi suất là sự tự nguyện của các bên, số tiền lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả được tính theo đúng quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán và thỏa thuận lãi suất của các bên tại Hợp đồng và các Quyết định về mức lãi suất từng thời điểm của Ngân hàng thể hiện tại Bảng tính tổng hợp gốc lãi. Vì vậy, V yêu cầu ông L, bà T1 phải trả V số tiền lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả của số tiền nợ gốc trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xác định đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) ông L, bà T1 còn nợ V tổng số tiền lãi là 4.126.912.414 đồng, trong đó: tiền lãi quá hạn là 3.938.194.133 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 188.718.281 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu ông L, bà T1 tiếp tục phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay và các Giấy nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông L, bà T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho V là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V):
3.1. Khoản vốn vay của ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 tại Ngân hàng V được thế chấp bằng các tài sản đảm bảo là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: T đất thửa số 28, tờ bản đồ số 01, Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: T đất số 26, tờ bản đồ số 01, Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022.
Trường hợp ông L, bà T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì V có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V.
Hội đồng xét xử xét thấy, để bảo đảm cho các Hợp đồng cho vay trên, ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 đã ký các Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022. Các tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm ngày 16/02/2022 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố H, số đơn 1673, quyển số 01, tài sản thế chấp là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: T đất thửa số 28, tờ bản đồ số 01, Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: T đất số 26, tờ bản đồ số 01, Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019.
Xét, các Hợp đồng thế chấp trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Các Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan có thẩm quyền. Do đó, các Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Ông L, bà T1 tự nguyện thỏa thuận với V về việc dùng toàn bộ tài sản của mình thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông L, bà T1 tại V. Việc ông L, bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là cơ sở để V có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Xét, yêu cầu của V về việc được kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/5/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022 tại phòng C tỉnh Hải Dương, giá trị tài sản đảm bảo là 45.528.000.000 đồng.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022 tại phòng C tỉnh Hải Dương, giá trị tài sản đảm bảo là 3.292.800.000 đồng.
Để thu hồi toàn bộ số tiền nợ khi ông L, bà T1 vi phạm nghĩa vụ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.2. Đối với yêu cầu của V tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho V thì V thông qua V Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nhận thấy, đây là giai đoạn thi hành án dân sự, không thuộc thẩm quyền của Toà án nên Hội đồng xét xử không xét.
[4]. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm:
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
[5].Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 292; Điều 298; Điều 317; Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/HĐTP-TANDTC ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo quy định về việc tính lãi đối với các Hợp đồng tín dụng được xác lập sau ngày 01/01/2017;
- - Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1);
- - Thông tư số 12/2010/TT - NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
- - Khoản 2 Điều 17 của Luật phí và lệ phí năm 2015.
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1.2, điểm e khoản 1.4 Điều 1Mục II - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V) đối với bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 phải thanh toán trả nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V) tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022; Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và các Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/7/2024 là 33.397.752.508 đồng (Ba mươi ba tỷ, ba trăm chín mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm linh tám đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 29.270.840.094 đồng;
- + Lãi quá hạn là 3.938.194.133 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả là 188.718.281 đồng.
- Bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V) khoản tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 11/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022; Hợp đồng cho vay số 20/2022/HBT-SN ngày 16/02/2022 và các Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022 đã ký giữa hai bên, kể từ ngày kế tiếp của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31/7/2024 cho đến khi ông L và bà T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP N (V).
- Trường hợp ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng TMCP N (V), thì Ngân hàng TMCP N (V) có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP N (V), tài sản bảo đảm là:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: T đất thửa số 28, tờ bản đồ số 01, số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022 tại phòng C tỉnh Hải Dương.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: T đất số 26, tờ bản đồ số 01, Số nhà B M, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 236271, Số vào sổ cấp GCN: CH - 00042, do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 12/05/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2. Ông T2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn K và vợ là bà Nguyễn Thị D1 ngày 20/7/2015. Ông K, bà D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo L và vợ là bà Trần Hoài T1 ngày 24/7/2019 - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 1834 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/02/2022 tại phòng C tỉnh Hải Dương.
- Tài sản bảo đảm được xử lý theo diện tích và kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm. Những người đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp nêu trên đều phải có nghĩa vụ chấp hành các quyết định của Cơ quan có thẩm quyền trong quá trình quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 đối với Ngân hàng TMCP N (V). Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP N (V). Nếu số tiền thu được còn thừa thì Ngân hàng TMCP N (V) trả lại phần thừa cho ông L và bà T1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 141.398.000 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại 70.093.000 đồng (Bảy mươi triệu, không trăm chín mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp - theo Biên lai thu tiền số 0006363 ngày 26/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
- Quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt ông Hoàng D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (V), vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1. Tòa án báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Bảo L và bà Trần Hoài T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hiền Hòa |
Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 53/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng N. và ông L., bà T1.
