TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024HS-ST Ngày 30/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sửu và bà Trần Thị Kim Khuyên
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Phú Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở UBND xã Thái Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST – HS ngày ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn V, sinh ngày: 05/5/1991; tại tỉnh Vĩnh Phúc;
Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Bùi Công T, sinh năm 1966; mẹ đẻ: Trình Thị N, sinh năm 1966; vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn); con: có 02, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: có 01. Tại quyết định số 04 ngày 27/01/2022, bị TAND huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 06 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 25/9/2023, chưa được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/04/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 01/4/2024, Bùi Văn V một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88K1-512.07 đi đến xã Đình Chu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua chất ma túy về sử dụng. Khi đến xã Đình Chu V gặp một người bạn ngoài xã hội mới quen tên là Trình (V không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), V hỏi Trình có biết ai bán ma túy không thì Trình giới thiệu V đi đến đèn xanh đèn đỏ ở xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc thì sẽ có người bán ma túy cho V. Theo chỉ dẫn của Trình, V đi đến ngã tư đèn xanh, đèn đỏ xã Triệu Đề, tại đây V gặp một người đàn ông không quen biết đứng ở ven đường và hỏi mua được của người này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy V cầm ở tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng còn người đàn ông đi đâu V không biết. Khoảng 11h30' cùng ngày, khi V đi đến đoạn đường thuộc thôn Trung Thành, xã Đình Chu, huyện Lập Thạch thì bị lực lượng công an huyện Lập Thạch kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại lòng bàn tay trái của V 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, niêm phòng ký hiệu A1, V khai nhận đây là gói ma túy V mua để sử dụng; thu giữ của V 01 xe mô tô biển kiểm soát 88K1-512.07; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 23.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 939 ngày 05/04/2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luạn: Chất bột cục dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2890g (Không phảy hai tám chín không gam, không kể bao bì), loại heroine (heroin).
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ được của V, V khai mua của một người đàn ông đứng ở ven đường tại đoạn đường gần đèn xanh đèn đỏ thuộc ở xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch với giá 200.000 đồng về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt quả tang thu giữ. Đối với người đàn ông bán ma túy cho V và người đàn ông tên là Trình chỉ dẫn cho V đến khu vực đèn xanh đèn đỏ xã Triệu Đề mua ma túy. Do V không biết tên tuổi, địa chỉ của hai người này và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn xứ xác minh làm rõ để xử lý.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Bùi Văn V đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 55/CT-VKS ngày 10 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Bùi Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Bùi Văn V; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Bùi Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị xử lý vật chứng vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Tịch thu, tiêu hủy mẫu A1 = 0,2094 gam cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88K1-512.07, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 23.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 11h30' ngày 01/04/2024, tại đoạn đường thuộc thôn Trung Thành, xã Đình Chu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Bùi Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma tuý, loại heroine, có tổng khối lượng 0,2890 gam, mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng khác có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn V đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine,...có khối lượng từ 0.1 gam đến dưới 5 gam”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; gây mất trật tự trị an ở địa phương; gây dư luận xấu trong nhân dân. Bên cạnh đó, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, gây nghiện cho bản thân và kéo theo là các hậu quả xấu cho sức khỏe bản thân, kinh tế gia đình sa sút và ảnh hưởng đến xã hội, hơn nữa ma túy là nguồn gốc nảy sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật v.v...Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 27/01/2022, bị TAND huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 06 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 25/9/2023, chưa được xóa tiền sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục vi phạm với lỗi cố ý. Do vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[3] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng, bị cáo là người nghiện ma túy; công ăn việc làm và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Mẫu A1 = 0,2890 gam cơ quan giám định hoàn lại A1 = 0,2094 gam cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88K1-512.07, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 23.000 đồng là của bị cáo. Chiếc xe mô tô V sử dụng làm phương tiện đi lại, chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc với người thân và bạn bè không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo các tài sản trên nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[5] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông tên là Trình chỉ dẫn cho bị cáo đến khu vực đèn xanh đèn đỏ xã Triệu Đề mua ma túy. Do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của hai người này và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn xứ xác minh làm rõ để xử lý là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/04/2024).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu, tiêu hủy mẫu A1 = 0,2094 gam cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88K1-512.07, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 23.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Nga |
Bản án số 53/2024HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Vinh
