TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 30-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Hùng, Lê Thị Sử.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn T, tên khác: Không; sinh năm 1998, tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Phan Văn D, sinh năm 1957 và con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1966; Vợ: Thái Thị Thúy A, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 477/2020/HSST ngày 20/11/2020 của TAND thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo T đã chấp hành xong vào ngày 27/7/2021; Quyết định số 49/QĐ-XPVPHC ngày 13/03/2016 của Công an huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh nhau” với số tiền 500.000 đồng, bị cáo T đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 14/6/2016. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Viết G, sinh năm 1989. Vắng mặt. Địa chỉ: xóm V xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
- Anh Nguyễn Công Viết P.
- Chị Phan Thị T2, sinh năm 2005. Vắng mặt. Địa chỉ: Xóm F, xã Đ huyện Đ, tỉnh Nghệ An
- Anh anh Phan Quốc H, sinh năm 1978. Vắng mặt. Địa chỉ: K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An
Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình T3, sinh năm 1999. Vắng mặt. Địa chỉ: Xóm F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 15 hoặc 16/03/2024, bị cáo Phan Văn T đi dạo tại thị trấn Đ thì gặp Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1991 trú tại xóm B xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, bị cáo T hỏi T4 “anh có tý mô không cho em tý” thì T4 trả lời “em chờ anh tý, tý có gì anh điện”. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T4 điện thoại cho bị cáo T nói đi lên cầu M thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Khi gặp nhau tại địa điểm đã hẹn T4 đưa ra 01(một) gói ma tuý đá được gói bằng túi ni lông màu trắng để T4 và bị cáo T cùng nhau sử dụng nhưng không có bộ dụng cụ để sử dụng ma túy nên T4 không sử dụng mà đi về, để lại số ma tuý đá đó cho bị cáo T. Bị cáo T cầm số ma tuý đá này mang về cất giấu tại nhà mình mục đích để sử dụng nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.
Đến khoảng 20 giờ ngày 20/3/2024, bị cáo T tiếp tục sử dụng điện thoại có số thuê bao 0395487616 gọi điện thoại cho Nguyễn Xuân T4 qua điện thoại có số thuê bao 0348036822, khi T4 nghe máy thì T nói “anh có không giúp em ít, có thì lấy em ba triệu” – Ý bị cáo T là nhờ T4 đi tìm mua ma tuý cho bị cáo T với số tiền 3.000.000 đồng, T4 trả lời “em đưa tiền lên vứt ở ngay bờ hồ xã Đ cho anh, khi nào có hàng thì anh gọi ra mà lấy. Ngay sau đó bị cáo T cầm số tiền 3.000.000 đồng đi lên khu vực bờ hồ thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An rồi để vào trong chòi tại khu vực hồ rồi đi về nhà. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày T4 gọi điện thoại cho bị cáo T và nói “có người vứt ở ngã ba cột điện gần bờ hồ” sau đó bị cáo T ra địa điểm T4 chỉ thì thấy 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu tím than mở ra bên trong có 01(một) túi ni lông màu trắng có chứa hồng phiến (bị cáo T không kiểm đếm số lượng), sau đó bị cáo T cất vào trong túi quần đang mặc mang về nhà cất giấu để bán kiếm lời.
Đến khoảng 15 giờ ngày 21/03/2024, khi bị cáo T đang ở nhà của mình tại xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An thì Nguyễn Đình T3, sinh năm 1999, trú tại xóm F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An sử dụng số điện thoại có số thuê bao 0925303470 gọi vào điện thoại của bị cáo T có số thuê bao là 03954877616 nói “anh có đá không để cho em năm trăm”, bị cáo T trả lời “chuyển tiền cho anh qua tài khoản M” thì T3 đồng ý. Một lúc sau T3 nhờ em gái của mình là Phan Thị T2, sinh năm 2005 trú tại xóm F, xã Đ huyện Đ, tỉnh Nghệ An chuyển vào tài khoản của tài số tiền 500.000 đồng, rồi T3 gọi điện thoại cho bị cáo T nói “anh nhận được tiền chưa”, bị cáo T trả lời “anh nhận được rồi có phải tài khoản Phan Thị T2 không” thì Nguyễn Đình T3 nói “đúng rồi anh”. Đến khoảng 20 giờ ngày 21/03/2024, Nguyễn Đình T3 gọi điện thoại cho bị cáo T để gặp lấy ma tuý tại khu vực ao đối diện trạm kiểm lâm thuộc địa phận xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Tại đây, bị cáo T đã gặp và đưa cho T3 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong chứa ma tuý đá (đây là gói ma tuý đá mà Nguyễn Xuân T4 trước đó đã đưa cho bị cáo T để sử dụng nhưng bị cáo T chưa sử dụng) rồi bị cáo T đi về nhà còn T4 mang số ma tuý này về nhà mình rồi sử dụng hết.
Khoảng 20 giờ ngày 28/03/2024, khi bị cáo T đang ở nhà mình thì có Nguyễn Viết G, sinh năm 1999 trú tại xóm V xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, gọi điện thoại cho T qua mạng Zalo hỏi “có hồng không anh” (Ý của G muốn hỏi mua ma tuý hồng phiến của bị cáo T), bị cáo T trả lời “có, chuyển khoản vào số tài khoản M1 03954877616 rồi lên chỗ bể bơi xã Đ để đợi”. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh G sử dụng tài khoản ngân hàng Mbnak 0392964852 của một người cháu tên là Nguyễn Công Viết P chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của bị cáo T. Khoảng 10 phút sau anh G đến khu vực bể bơi thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, đợi bị cáo T khoảng 5 phút thì bị cáo T đến và đưa cho anh G 01 (một) gói ma tuý được bọc bằng bao ni lông màu trắng, anh G cầm lấy gói ma tuý đi về nhà mở ra đếm thấy có 06 (sáu) viên ma tuý hồng phiến và anh G sử dụng hết trong ngày, còn bị cáo T đi về nhà mình.
Đến khoảng 20 giờ ngày 30/3/2024, bị cáo T lấy gói nilon màu trắng ở đầu giường ngủ của mình ra, bên trong chứa ma túy hồng phiến mà bị cáo T mua được của Nguyễn Xuân T4 trước đó rồi lấy một túi nilon màu trắng để chia hồng phiến thành hai túi ni lông màu trắng và màu vàng. Ngay sau đó bị cáo T cầm 02 (hai) túi nilon màu trắng và màu vàng bên trong hai túi nilon này đều chứa hồng phiến sau đó T bỏ 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa 12 viên hồng phiến ở trong túi quần bên trái, còn 01 (một) túi nilon màu vàng bên trong chứa 07 (bảy) viên hồng phiến (trong đó 06 viên nén hình trụ tròn màu hồng và 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh) cất vào trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu THĂNG LONG để ở trước hốc xe mô tô biển kiểm soát: 37D1 - 657.03 rồi điều khiển xe mô tô đi từ nhà của T tại xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An xuống khu đô thị vườn xanh thuộc khối D, thị trấn Đ, huyện Đ để bán số ma túy trên cho các đối tượng nghiện. Vì bị cáo T biết ban đêm khu vực này là nơi đây tập trung đông người ăn uống và chơi bời, có nhu cầu mua ma túy. Khi bị cáo T đang điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đối diện nhà nghỉ “TH” thuộc khu đô thị V, thị trấn Đ, huyện Đ lúc này là 21 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chủ trì, phối hợp với tổ công tác 373 Công an huyện Đ, Công an thị trấn Đ làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của bị cáo Phan Văn T có 01 (một) túi nilon màu trắng được vo tròn có kích thước 02x03cm bên trong có chứa 12 (mười hai) viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma túy, tiếp tục kiểm tra phương tiện xe mô tô, phát hiện tại hốc bên phải xe mô tô của bị cáo T điều khiển có 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu THĂNG LONG có chứa 01 (một) túi nilon màu vàng không rõ hình dạng bên trong có chứa 07 viên nén hình trụ tròn (trong đó 06 viên nén hình trụ tròn màu hồng và 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh) nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Phan Văn T thu giữ và niêm phong vật chứng và đưa đối tượng Phan Văn T về trụ sở cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để tiếp tục điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm: gồm 19 (mười chín) viên ma tuý hồng phiến, 01 xe mô tô biển kiểm soát 37D1 - 657.03; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn sim số thuê bao 0395.487.616; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo thu giữ của Nguyễn Viết G.
Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 30/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Phan Văn T, tại xóm L huyện Đ, tỉnh Nghệ An nhưng không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Vào lúc 8 giờ ngày 5/04/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1991, tại xóm B xã Đ huyện Đ, tỉnh Nghệ An nhưng không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 31/03/2024, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ đã thanh lập Hội đồng tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại theo quy định, sau khi loại bỏ bao bì. Toàn bộ 18 (mười tám) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 1,787 gam (Một phẩy bảy trăm tám bảy gam); 01(một) viên nén màu xanh có khối lượng là 0,104 gam (Không phẩy một trăm linh bốn gam). Hội đồng đã lấy 02(hai) viên nén màu hồng ký hiệu là M1,M2 có khối lượng 0,29 gam(không phẩy hai chín gam) và 01(một) viên nén màu xanh ký hiệu là M3 có khối lượng 0,104gam( không phẩy một trăm linh tư gam) gửi đi giám định. Còn lại 02 (hai) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh ni lông trắng, 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu THĂNG LONG màu vàng 16(mười sáu) viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 1,497 gam(Một phẩy bốn trăm chín bảy gam) được niêm phong lại theo đúng quy định.
Tại bản kết luận giám định số 381/KL-KTHS ngày 05/04/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén hình trụ tròn màu hồng(Ký hiệu M1,M2) và mẫu viên nén hình trụ tròn màu xanh(Ký hiệu M3) thu giữ của Phan Văn T gửi tới giám định đều là ma tuý; loại Methamphetamine; các viên nén hình trụ tròn màu hồng thu giữ của Phan Văn T có tổng khối lượng là 1,787gam( một phẩy bảy trăm tám mươi bảy gam); Viên nén hình trụ tròn màu xanh thu giữ của Phan Văn T có khối lượng là 0,104gam( Không phẩy một trăm linh bốn gam); mẫu vật cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số 60/CT-VKS-ĐL ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Phan Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 51; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 08 (tám) năm 06 tháng tù đến 09 (chín) năm tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh ni lông trắng, 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu THĂNG LONG màu vàng 16 (mười sáu) viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 1,497 gam (Một phẩy bốn trăm chín bảy gam); Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn sim số thuê bao 0395.487.616; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo thu giữ của Nguyễn Viết G. Truy thu số tiền 1.000.000 đồng từ bị cáo Phan Văn T.
Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
ại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố là đúng nên không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Hành vi, quyết định tố tụng của C tra Công an huyện Đ, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C1 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của C1 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2]. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng:
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điệu tra họ có lời khai đầy đủ. Xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 30/03/2024, tại khu đô thị V thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã bắt quả tang bị cáo Phan Văn T đang có hành vi tàng trữ 1,891g (một phẩy tám trăm chín mươi mốt gam) ma tuý (Methamphetamine) nhằm mục đích để bán kiếm lời. Quá trình điều tra xác định được trước đó bị cáo T đã 02 (hai) lần bán ma tuý cho những đối tượng nghiện cụ thể: Vào ngày 21/03/2024 tại khu vực ao đối diện trạm kiểm lâm thuộc địa phận xã L huyện Đ, tỉnh Nghệ An, bị cáo Phan Văn T đã bán cho Nguyễn Đình T3, sinh năm 1999, trú tại xóm F xã Đ huyện Đ, tỉnh Nghệ An 01(một) gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng; Ngày 28/03/2024 tại khu vực hồ thuộc địa phận xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, Phan Văn T đã bán cho Nguyễn Viết G, sinh năm 1999, trú tại xóm V xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An 06 (sáu) viên ma tuý (Methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo Phan Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình như cáo truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất hành vi của bị cáo:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến quyền chính sách độc quyền về quản lý ma túy của Nhà nước và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội là mua bán ma túy để kiếm lời, nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhưng sau khi chấp hành xong bản án bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo bản thân mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T5 phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
[2.5]. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ điều Công an huyện Đ đã thu giữ: 19 (mười chín) viên ma tuý hồng phiến, 01 xe mô tô biển kiểm soát 37D1 - 657.03; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn sim số thuê bao 0395.487.616; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo thu giữ của Nguyễn Viết G. Quá trình điều tra đã lấy 02 (hai) viên nén màu hồng ký hiệu là M1,M2 có khối lượng 0,29 gam (không phẩy hai chín gam) và 01(một) viên nén màu xanh ký hiệu là M3 có khối lượng 0,104gam( không phẩy một trăm linh tư gam) gửi đi giám định. Quá trình giám định đã sử dụng hết mẫu vật gửi đến giám định. Vật chứng còn lại gồm: 02 (hai) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh ni lông trắng, 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu THĂNG LONG màu vàng 16(mười sáu) viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 1,497 gam(Một phẩy bốn trăm chín bảy gam) thu giữ của bị cáo Phan Văn T nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 37D1 - 657.03, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: NOUVO-5I; màu sơn: Đen - bạc, thu giữ khi bắt quả tang bị cáo T. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Phan Quốc H, sinh năm 1978 trú tại xóm K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vào ngày 30/3/2024, việc Phan Văn T sử dụng chiếc xe mô tô này để đi bán chất ma túy thì Phan Quốc H không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Phan Quốc H là đúng quy định. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn sim số thuê bao 0395.487.616; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo thu giữ của Nguyễn Viết G là vật chứng và phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước. Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo T có được từ việc bán ma túy cho anh T3 và anh G là tài sản bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.
[3] Đối với anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1991 theo bị cáo Phan Văn T khai là người bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã điều tra, xác minh và xác định, từ ngày 30/3/2024 đến nay Nguyễn Xuân T4 không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì, ở đâu. Ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T4 tại xóm B, xã Đ, huyện Đ, quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan, đồng thời ra Quyết định truy tìm người đối với Nguyễn Xuân T4 để phục vụ quá trình điều tra. Trong quá trình trao đổi mua bán chất ma túy với Nguyễn Xuân T4 thì bị cáo Phan Văn T đã sử dụng số điện thoại 0395.487.xxx để trao đổi liên lạc mua ma túy của Nguyễn Xuân T4 có số điện thoại 0348.036.xxx. Tuy nhiên, theo lời khai nhận của bị cáo Phan Văn T thì Nguyễn Xuân T4 không dùng một số điện thoại cố định để liên lạc với bị cáo T mà thường xuyên thay đổi số điện thoại. Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm đối với số điện thoại 0395.487.xxx mà bị cáo Phan Văn T khai nhận sử dụng để trao đổi mua bán ma túy. Ngày 11/4/2024, Tập đoàn C2 đã có công văn phúc đáp. Căn cứ, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, lời khai của bị cáo Phan Văn T chưa đủ căn cứ để kết luận hành vi phạm tội của Nguyễn Xuân T4. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, khi nào điều tra, xác minh được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình T3 và Nguyễn Viết G. Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với anh Nguyễn Đình T3 và anh Nguyễn Viết G là đúng quy định của pháp luật
Đối với Nguyễn Công Viết P và Nguyễn Thị T6 sử dụng tài khoản của mình để chuyển tiền hộ cho Nguyễn Viết G và Nguyễn Đình T3 mua ma tuý của T nhưng Nguyễn Công Viết P và Nguyễn Thị T6 không biết việc mua ma tuý này nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An không xử lý trách nhiệm của chị T6 và anh P là đúng quy định của pháp luật.
Đối với anh của anh Phan Quốc H, sinh năm 1978 trú tại xóm K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An là người cho bị cáo T mượn xe mô tô vào ngày 30/3/2024, việc bị cáo Phan Văn T sử dụng chiếc xe mô tô này để đi bán chất ma túy thì anh Phan Quốc H không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xử lý trách nhiệm đối với anh Phan Quốc H là đúng quy định của pháp luật.
[4] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/3/2024).
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phan Văn T.
- Về vật chứng: Tịch tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đ, kích thước 17x23cm, phía sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Phan Văn T bên trong có chứa: 02 (hai) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh ni lông trắng, 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu THĂNG LONG màu vàng 16 (mười sáu) viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 1,497 gam(Một phẩy bốn trăm chín bảy gam) thu giữ của bị cáo Phan Văn T; Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn sim số thuê bao 0395.487.616 thu của bị cáo Phan Văn T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo thu giữ của Nguyễn Viết G (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/7/2024, giữa Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An); Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng từ bị cáo Phan Văn T.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn T chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Duy Phi |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
