Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Minh - Cán bộ hưu trí Phường 2, thành phố Sa Đéc;
  2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hà - P. Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Sa Đéc.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn P; giới tính: Nam; sinh ngày 24/4/2007; tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: số G, Kênh Sáu H, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12.

  • - Cha: Trần Minh D, sinh năm 1979 (Người đại diện của bị cáo).
  • - Mẹ: Đoàn Thị T, sinh năm 1986 (Người đại diện của bị cáo).
  • - Anh, chị, em: Không có.
  • - Vợ, con: Chưa có.
  • - Tiền án, tiền sự: Không có.
  • - Tạm giữ, tạm giam: Không có.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn P:

Trần Hồng T1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số B đường H, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Bà T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị cáo, người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa).

Bị hại:

  • - Em Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 2007 (có mặt).
  • Người đại diện: Chị Nguyễn Thị Kim K, sinh năm 1978, là mẹ của em Đ (có mặt).
  • Nơi cư trú: Số C đường Đ, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Em Nguyễn Thành D1, sinh năm 2006 (có mặt).
  • Người đại diện: Chị Trần Thị Diễm C, sinh năm 1982, là mẹ của em D1 (có mặt).
  • Nơi cư trú: Số B, Ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Em Lê Thanh H1, sinh năm 2006 (có mặt).
  • Người đại diện: Chị Đặng Thị Kim Q, sinh năm 1985, là mẹ của em H1 (có mặt).
  • Nơi cư trú: Số E, Ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Bà Trần Thị T2, sinh năm 1964 (có mặt).
  • Nơi cư trú: Số G Kênh S, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Quốc Đ:

Ông Hà Văn N, là Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh số 1 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt).

Địa chỉ: Số D đường N, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Thành D1:

Ông Nguyễn Quốc T3, là Luật sư thuộc Công ty L và Cộng sự.

Địa chỉ: Số A đường T, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông T3 vắng mặt, không có lý do. Bị hại, người đại diện của bị hại đồng ý xét xử vắng mặt người bảo vệ và lợi ích hợp pháp của mình).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 23/5/2023, bị cáo Trần Văn P rủ các em Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Thành D1, Lê Thanh H1, Lê Nguyễn Thanh T4 (đã chết ngày 15/8/2023) cùng đến con kênh gần nhà của P để tắm sông và bắt cá và được cả nhóm đồng ý.

Em D1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen-tím chưa gắn biển kiểm soát của bị cáo P và chở P. Em Đ, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen, biển số 66S1-509.48 của Đ. Em T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream (không nhớ biển số) của em D1 chở em H1. Cả nhóm chạy đến khu vực Kênh T thuộc ấp T, xã T, thành phố S thì dừng lại và đậu xe trên bờ đê.

Lúc này, bị cáo P mở cốp xe của mình để quần áo và điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng vào bên trong cốp xe. Thấy vậy, em H1 gửi 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen của em và em T4 cũng gửi 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen của mình để vào bên trong cốp xe nhờ P cất giữ giùm, rồi P đóng cốp xe lại và để chìa khóa vào hộc xe.

Cùng lúc này, em Đ cũng mở cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen, biển số 66S1-509.48 của em để quần áo và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím của em vào bên trong cốp xe. Thấy vậy, em D1 cũng gửi 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu đen của mình vào bên trong cốp xe của Đ; xong, Đ đóng cốp xe lại và vẫn để chìa khóa gắn trên xe. Sau đó, cả nhóm lội xuống K1 để bắt cá.

Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, bị cáo P nói với cả nhóm là đi tìm dụng cụ để đựng cá. Khi lên bờ, P đi đến nơi đậu xe cách nơi Đ, T4, H1, D1 đang bắt cá khoảng 200m. P nhìn thấy chìa khóa xe mô tô biển số 66S1-509.48 của Đ còn gắn trên ổ khóa nên đi đến mở cốp xe lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím của Đ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu đen của D1, rồi tiếp tục mở cốp xe mô tô không gắn biển kiểm soát của P lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen của H1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng của P. Lấy xong, P tắt nguồn cả 04 điện thoại và để tất cả vào bọc nylon nhặt được trên bờ đê rồi đem cất giấu vào gốc cây cách nơi đậu xe khoảng 2m. Sau đó, P tiếp tục lội xuống K1 bắt cá cùng nhóm bạn.

Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, D1P lên bờ trước và đi đến nơi đậu xe; D1 mở cốp xe của Đ định lấy điện thoại thì phát hiện điện thoại của D1 và của Đ đều đã bị mất. Thấy vậy, P cũng giả vờ mở cốp xe của P để kiểm tra và tri hô là điện thoại của P và của H1 cũng đã bị mất, trong cốp xe chỉ còn lại 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen của T4 nên Đ, T4, H1 cùng đi đến hai xe để kiểm tra thì phát hiện đã mất các điện thoại di động. Sau đó, cả nhóm điều khiển xe chạy về nhà của P và sử dụng điện thoại của T4 đăng nhập vào tài khoản của từng người để tìm kiếm các điện thoại đã mất nhưng không được. Do đó, em Đ điều khiển xe mô tô biển số 66S1-509.48 của mình đi đến Công an xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp trình báo sự việc.

Khoảng 30 phút sau, bị cáo P điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát của P chở D1. Em T4 điều khiển xe mô tô hiệu Dream của D1 chở H1 về nhà của H1. Khi đi được khoảng 100m, P giả vờ nói với D1 là để quên đồ nên kêu D1 xuống xe đứng đợi, T4H1 đi về trước, còn P một mình điều khiển xe quay trở lại nơi cất giấu 04 điện thoại đã lấy trộm bỏ vào cốp xe mô tô rồi tiếp tục chạy đến rước D1 cùng đi về nhà của H1. Khi về đến nhà, H1 hỏi mượn xe mô tô của P đi mua đồ dùng. Vì sợ bị H1 phát hiện nên P nói dối là xe hết xăng, không đồng ý cho mượn xe. Vì vậy, H1 mượn xe của D1 đi khoảng 05 phút thì quay trở lại và cùng với P, D1, T4 đến quán C1 thuộc Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để uống nước.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, do nghi ngờ P là người lấy trộm tài sản nên em Đ cùng bà Nguyễn Thị Kim K (mẹ của Đ) và Công an xã T, thành phố S đến quán C1 gặp P và kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen-tím chưa gắn biển kiểm soát của P phát hiện 03 điện thoại di động của Đ, D1, H1 và 01 điện thoại di động của P được cất giấu trong cốp xe nên mời P về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, bị cáo P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

  • - 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen, bên trong có gắn 01 sim điện thoại mạng Mobifone (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của Nguyễn Quốc Đ.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 11 Pro, màu đen có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng, bên trong có gắn 01 sim điện thoại mạng Mobifone (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của Nguyễn Thành D1.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu đen có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng, bên trong có gắn 01 sim điện thoại mạng Mobifone (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của Lê Thanh H1.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của Trần Văn P.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen-tím, số khung MH1JM4111MK694497, số máy JM41E1693587, chưa gắn biển kiểm soát.

Theo Biên bản và kết luận định giá tài sản số: 25/HĐĐGTS ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, loại 128Gb, (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 23.000.000 đồng, kèm:
    • + 01 ốp lưng điện thoại Iphone 14 Pro M bằng nhựa màu đen, không nhãn hiệu (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 50.000 đồng;
    • + 01 phôi sim điện thoại mạng Mobifone (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 25.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, loại 648Gb, (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 8.000.000 đồng, kèm:
    • + 01 ốp lưng điện thoại Iphone 12 Pro bằng nhựa màu trắng, không nhãn hiệu (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 30.000 đồng;
    • + 01 phôi sim điện thoại mạng Mobifone (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 25.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, loại 648Gb, (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 3.200.000 đồng, kèm:
    • + 01 ốp lưng điện thoại Iphone 8 Plus bằng nhựa màu trắng, không nhãn hiệu (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 20.000 đồng;
    • + 01 phôi sim điện thoại mạng Mobifone (đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi). Giá trị định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/5/2023 là 25.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại thời điểm ngày 23/5/2023 có giá trị là: 34.375.000 đồng (trong đó: Giá trị tài sản bị trộm cắp là 31.130.000 đồng; giá trị tài sản bị lạm dụng tín nhiệm là 3.245.000 đồng).

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

  • - Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen, bên trong gắn 01 sim điện thoại mạng Mobifone; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 11 Pro, màu đen gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng, bên trong gắn 01 sim điện thoại mạng Mobifone; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu đen gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng), bên trong gắn 01 sim điện thoại mạng Mobifone, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả lại cho các em Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Thành D1, Lê Thanh H1 nhận xong.
  • - Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của bị cáo Trần Văn P không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tiếp tục quản lý.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen-tím, số khung MH1JM4111MK694497, số máy JM41E1693587, chưa gắn biển kiểm soát, qua xác minh, xác định là tài sản của bà Trần Thị T2 (bà ngoại của P). Bà T2 không biết P sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần hoàn trả lại cho bà Trần Thị T2.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Thành D1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thanh H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.

Đối với hành vi lợi dụng sự tin tưởng của em Lê Thanh H1 gửi điện thoại cho bị cáo Trần Văn P giữ giùm. Bị cáo P đã chiếm đoạt điện thoại di động của H1. Tuy nhiên giá trị tài sản theo định giá là 3.245.000 đồng, chưa đủ định lượng theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã có văn bản đề nghị Công an thành phố S xử phạt hành chính đối với Trần Văn P

Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKSTPSÐ ngày 25/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố; phân tích, nhận định hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo không bào chữa, không tranh luận.
  • - Trợ giúp viên pháp lý - bà Trần Hồng T1 là người bào chữa cho bị cáo Trần Văn P gửi bản bào chữa với quan điểm: Bị cáo phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo. Bị cáo là người chưa thành niên. Vì vậy, đề nghị HĐXX, xem xét các tình tiết giảm nhẹ và quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
  • - Quá trình điều tra, truy tố xác định: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của họ không có yêu cầu gì.
  • - Trợ giúp viên pháp lý - ông Hà Văn N là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Quốc Đ phát biểu quan điểm: Quá trình điều tra, em Đ đã nhận lại tài sản bị mất nên quyền lợi đã được đảm bảo; đồng thời, bị hại cũng có đơn không yêu cầu xử lý hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và là người chưa thành niên nên đề nghị HĐXX xem xét, quyết định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt.

Từ đó, đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 23/5/2023, tại bờ Kênh T thuộc ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Trần Văn P đã có hành vi lén lút lấy trộm 02 điện thoại di động, tổng trị giá 31.130.000 đồng của em Nguyễn Quốc Đ và em Nguyễn Thành D1 mang đi cất giấu ở nơi khác, nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người chưa thành niên và đã đủ 16 tuổi nên nhận thức được tài sản thuộc sở hữu của người khác là không được chiếm đoạt trái với ý muốn của họ. Tuy nhiên, do ham chơi, lười lao động mà muốn có tiền để tiêu xài và lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của các bị hại trong việc trông coi, quản lý tài sản nên bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình.

[4]. Xét thấy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội và đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Tại phiên tòa, bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình; thể hiện được sự ăn năn, hối cải; cũng như đã gửi lời xin lỗi đến các bị hại và những người liên quan khác.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với bị hại Nguyễn Quốc Đ là người dưới 16 tuổi quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị hại, đại diện hợp pháp của các bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, khi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi. HĐXX xét thấy, việc xử lý bị cáo nhằm mục đích giáo dục, giúp cho bị cáo nhận thức và sửa chữa sai lầm; rèn luyện phẩm chất đạo đức trở thành một công dân có ích cho xã hội. Đồng thời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao cho gia đình, chính quyền địa phương giáo dục để răn đe. Vì vậy, cần áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7]. Đối với quan điểm của bà Trần Hồng T1 là người bào chữa cho bị cáo và ông Hà Văn N là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại em Nguyễn Quốc Đ là phù hợp với tình tiết nội dung vụ án và đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[9]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[10]. Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen-tím, số khung MH1JM4111MK694497, số máy JM41E1693587, chưa gắn biển kiểm soát là tài sản thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T5 nên trả lại cho bà T5 theo quy định của pháp luật.

Về tài sản tạm giữ: Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của bị cáo P để đảm bảo thi hành án.

[11]. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[12]. Đối với hành vi lợi dụng sự tin tưởng của em Lê Thanh H1 gửi điện thoại cho bị cáo cất giữ giùm; sau đó, bị cáo đã chiếm đoạt điện thoại di động của em H1. Tuy nhiên, giá trị tài sản theo định giá là 3.245.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự:
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn P 09 tháng tù (chín tháng tù) nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2023).

    Giao bị cáo Trần Văn P cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  5. Về xử lý vật chứng:
  6. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Hoàn trả cho bà Trần Thị T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen-tím, số khung MH1JM4111MK694497, số máy JM41E1693587, chưa gắn biển kiểm soát;

    Về tài sản tạm giữ: Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của bị cáo Trần Văn P để đảm bảo thi hành án.

    (Hiện xe và điện thoại do Chi cục thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/11/2023).

  7. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
  8. Bị cáo Trần Văn P nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b)
  • - VKSND Tp. Sa Đéc; (2b)
  • - Công an Tp. Sa Đéc; (4b)
  • - Chi cục THA Tp. Sa Đéc; (1b)
  • - Sở Tư pháp; (1b)
  • - Thi hành án phạt tù; (1b)
  • - Những người tham gia tố tụng; (1b)
  • - Lưu VT, TP; (2b)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger