|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI Tỉnh Thái Bình Bản án số: 53/2024/HNGĐ- ST Ngày: 29/8/2024 V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hiểu.
- Bà Tạ Thị Minh Huệ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 88/2024/TLST- HNGĐ ngày 11/6/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXX- ST ngày 05/8/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm 1988
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, Thái Bình.
( Anh C, chị T có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Hà Văn C trình bày: Anh C và chị T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 18/5/2018. Sau khi kết hôn anh C và chị T chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ cho nhau trong công việc và trong cuộc sống. Từ năm 2023 cho đến nay anh C và chị T sống ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh C đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho anh C được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh C và chị T có 01 con chung là Hà Thanh T1, sinh ngày 08/7/2019. Con chung của anh C và chị T đang học tại trường Mầm Non xã N. Sau khi ly hôn anh C xin được trực tiếp nuôi con chung, anh C không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Anh C làm công nhân có thu nhập ổn định hàng tháng, làm giờ hành chính và sống cùng bố mẹ đẻ anh, anh C cam kết có đủ khả năng và điều kiện đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, công nợ: Anh C và chị T không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.
Tại bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị T và anh C kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 18/5/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp. Từ năm 2023 cho đến nay chị T và anh C sống ly thân. Anh C làm đơn xin ly hôn, chị đã đồng ý ký đơn xin ly hôn để anh C đi nộp tại Tòa án. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị T cũng đồng ý ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị T và anh C có 01con chung là Hà Thanh T1, sinh ngày 08/7/2019. Con chung hiện đang học tại trường Mầm Non xã N. Sau khi ly hôn, chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị T không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Chị T có một cửa hàng bán thuốc, thu nhập ổn định và sống cùng bố mẹ đẻ chị T tại xã N. Chị T cam kết có đủ khả năng và điều kiện đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, công nợ: Chị T và anh C không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.
Tại biên bản xác minh ngày 26/12/2023, Ủy ban nhân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình cung cấp như sau: Anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T kết hôn ngày 18/5/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã N một thời gian sau đó hai vợ chồng chuyển về sinh sống tại xã N. Từ năm 2023 anh C về nhà bố mẹ đẻ anh C tại thôn A, xã N sinh sống. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị T chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Từ năm 2023 cho đến nay anh C và chị T sống ly thân. Về con chung: Anh C và chị T có 01 con chung là Hà Thanh T1, sinh ngày 08/7/2019, cháu T1 hiện sống cùng mẹ và học tại Trường Mầm Non xã N. Về tài sản chung: Chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Anh C làm công nhân, còn chị T làm dược sĩ. Về giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình giữa anh C và chị T, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T; về con chung: Giao con chung Hà Thanh T1, sinh ngày 08/7/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung: Không giải quyết; Về án phí: Anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 18/5/2018. Tại thời điểm kết hôn, anh C và chị T đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh C và chị T chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ năm 2023 cho đến nay anh C và chị T không chung sống cùng nhau, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, cả anh C và chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho hai vợ chồng được ly hôn. Như vậy, hôn nhân của anh C và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T.
[2.2]. Về con chung: Anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T có 01 con chung là Hà Thanh T1, sinh ngày 08/7/2019 . Anh C và chị T đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh C và chị T không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Theo quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình: “ Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên...”. Tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Vợ chồng có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”. Xét về điều kiện nuôi con của anh C và chị T thì cả hai anh chị đều công việc, có thu nhập ổn định và có khả năng đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Nguyện vọng được nuôi con chung của anh C và chị T là chính đáng. Tuy nhiên cháu T1 hiện tại đang sống cùng chị T và học tại Trường Mầm Non xã N, hơn nữa cháu T1 còn nhỏ mới hơn 05 tuổi lại là con gái cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Hà Thanh T1. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ: Không có.
[2.4]. Về án phí: Anh Hà Văn C tự nguyện nộp cả án phí ly hôn sơ thẩm.
[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 51, 55, 57, 58,71, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Hà Thanh T1, sinh ngày 08/7/2019. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
- Về tài sản chung, công nợ: Không có.
- Về án phí: Anh Hà Văn C tự nguyện nộp cả 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh C đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0002678 ngày 11/6/2024. Trả lại anh C số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/8/2024).
Anh Hà Văn C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung và được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |
Bản án số 53/2024/HNGĐ- ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Hà Văn C xin ly hôn chị Nguyễn Thị T
