TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE Bản án số: 53/2024/HNGĐ - ST Ngày: 29/5/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Hùng
- Bà Lê Thị Hồng Nhan
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 14/2024/TLST-HN ngày 24 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HN ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 1995 (xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre
Chổ ở hiện nay: Hẻm A, khu phố H, T, tỉnh Bình Dương
Bị đơn: Lê Minh C, sinh năm 1995 (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo N trình bày:
Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Lê Minh C tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 22 tháng 5 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường hay tranh cãi, bất đồng quan điểm sống dẫn đến không còn hạnh phúc, vợ chồng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm để chung sống nhưng không có kết quả. Chị Nguyễn Thị Thảo N vẫn yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Minh C.
Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung tên Lê Thị Tâm N1, sinh ngày 02/12/2021, sau khi ly hôn chị N đồng ý để anh C nuôi cháu N1 và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Để các bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có nợ ai nên không yêu cầu giải quyết
Bị đơn anh Lê Minh C vắng mặt tại phiên tòa và không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật, cụ thể vắng mặt vào các lần Tòa mời hòa giải, xét xử.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thảo N; chị Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với anh Lê Minh C ; Về con chung: Anh Lê Minh C được trực tiếp nuôi cháu Lê Thị Tâm N1, sinh ngày 02/12/2021chị Nguyên không cấp dưỡng nuôi con do anh C không có yêu cầu cấp dưỡng; Tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thảo N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản để các bên tự thỏa thuận và không có nợ ai, anh Lê Minh C không ý kiến nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:
Chị Nguyễn Thị Thảo N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thảo N.
Anh Lê Minh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lê Minh C.
[1] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Lê Minh C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc theo chị N trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể nào hàn gắn để tiếp tục chung sống. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Minh C và chị Nguyễn Thị Thảo N vẫn không biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng trở về chung sống, chị Nguyễn Thị Thảo N vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Minh C. Anh Lê Minh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong hồ sơ vụ án và hòa giải nhưng anh Lê Minh C vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy anh Lê Minh C không có thiện chí đến Tòa án hòa giải để về đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Lê Minh C không khắc phục được, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thảo N là có căn cứ.
[2] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Lê Minh C có 01 con chung Lê Thị Tâm N1, sinh ngày 02/12/2021, hiện cháu đang sống cùng chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Lê Minh C. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Thảo N đồng ý để anh Lê Minh C nuôi cháu Lê Thị Tâm N1. Xét thấy cháu Tâm N1 được anh Lê Minh C chăm sóc và vẫn đảm bảo tốt việc chăm sóc, nuôi dạy bé vẫn được đảm bảo phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, nhằm để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý của cháu Lê Thị Tâm N1 nên để anh Lê Minh C tiếp tục nuôi cháu Tâm N1 là phù hợp. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị Nguyễn Thị Thảo N không cấp dưỡng nuôi con, anh Lê Minh C không có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
Tài sản chung; nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thảo N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và không có nợ ai, anh Lê Minh C không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, chị Nguyễn Thị Thảo N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thảo N
Chị Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với anh Lê Minh C
2.Về nuôi con chung: Anh Lê Minh C được trực tiếp nuôi cháu Lê Thị Tâm N1, sinh ngày 02/12/2021chị Nguyễn Thị Thảo N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lê Minh C không có yêu cầu cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3.Về chia tài sản; nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thảo N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và không có nợ ai, anh Lê Minh C không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thảo N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Thảo N đã nộp theo biên lai thu số 0003044 ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.
Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đỉnh |
Bản án số 53/2024/HNGĐ - ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thảo Nguyên xin ly hôn với anh Lê Minh Chí
