Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Ông Bá Đình Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 05/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/ HSST- QĐ ngày 26/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/ HSST- QĐ ngày 17/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/11/2005

Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận

Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1982;

Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú, đang tại ngoại tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Bị hại:

Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2010 (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Nguyễn Thái B, sinh năm 1990 (Ba ruột của bị hại) (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thái B, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
  3. Trần Văn L1, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

· Người làm chứng:

Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 14/9/2023, Nguyễn Văn T (sinh 04/11/2005; trú tại: thôn B, xã B, huyện B) đi bộ từ nhà của T đến nhà ông Nguyễn Thái B (sinh năm: 1990; trú cùng thôn – là dượng của T) để chơi. Thấy nhà ông B không có ai nên T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại của ông B, T đi vào nhà đến tủ đựng đồ ở nhà sau của ông B, T mở ngăn tủ ra thấy bên trong ngăn tủ có để 01 điện thoại Samsung A10S của ông B, T lấy điện thoại bấm thử thì điện thoại vẫn hoạt động bình thường nên T lấy trộm điện thoại mang về nhà để sử dụng. Sáng ngày 15/9/2023, sau khi ăn sáng xong T sạc điện thoại Samsung A10S và đi ngủ tiếp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày 15/9/2023, bà Nguyễn Thị Bích L (sinh năm: 1984) là mẹ ruột T đi làm về nhà, nhìn thấy bên cạnh giường ngủ của T đang sạc chiếc điện thoại Samsung A10S, thấy điện thoại này lạ không phải của T nên bà L giữ chiếc điện thoại. Đến 13 giờ cùng ngày, T tỉnh dậy thì bà L hỏi T về nguồn gốc chiếc điện thoại, T không nói nên bà L cầm cây đánh T nên T bỏ chạy ra khỏi nhà. Bà L mở chiếc điện thoại Samsung A10S ra kiểm tra, thì biết là điện thoại của ông Nguyễn Thái B nên đã gọi điện thoại cho Nguyễn Tuấn K (sinh năm: 2010, trú cùng thôn – là con ruột ông B) đến nhà lấy điện thoại về. Kiệt đạp xe đạp đến nhà bà L, khi gần đến nhà bà L thì T nhìn thấy K đi vào nhà, T đoán K đến lấy điện thoại di động mang về nên nấp ở bụi cây gần đó chờ K ra giật lại điện thoại. Sau khi bà L

trả lại điện thoại cho K thì K cầm chiếc điện thoại Samsung A10S trên tay và đạp xe đạp về nhà chạy ngang qua nơi T ẩn nấp, T liền chạy theo phía sau tới giật chiếc điện thoại trên tay K nhưng K cầm chắc điện thoại nên T không giật được, lúc này xe đạp bị ngã, T tiếp tục giật điện thoại với K nhưng K không buông, T và K giằng co nhau, K la lên “ăn trộm, ăn trộm”. Thấy vậy, T dùng tay phải kẹp cổ K làm K không la lên được rồi giật mạnh điện thoại trong tay K làm màn hình điện thoại bị vỡ, lúc này có người đến nên T cầm điện thoại bỏ chạy. Sau đó, T bán chiếc điện thoại cho cửa hàng điện thoại H của Trần Văn L1 (sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã B, huyện B), L1 không biết điện thoại T mang đến bán do cướp được mà có nên đồng ý mua với giá 100.000 đồng, T lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Ông Nguyễn Thái B làm đơn tố cáo Nguyễn Văn T, Công an xã B tiến hành mời T lên trụ sở làm việc thì T đã khai nhận hành vi nêu trên. Công an xã B chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. (Bút lục số: 49-57; 58, 61-74).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số:76/2023/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận:

Tài sản là 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A10S màu đen, ram 02 G, rom 32 G, mua mới năm 2020 bị nứt nhẹ ở màn hình tại thời điểm bị mất trộm ngày 14/9/2023 có giá trị 1.107.000 đồng (một triệu một trăm lẻ bảy ngàn đồng). (Bút lục số 20-24).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng và bồi thường dân sự: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 điện thoại Samsung A10S. Sau khi định giá tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B đã trả lại 01 điện thoại Samsung A10S cho ông Nguyễn Thái B là chủ sở hữu theo quy định.

Về phần bồi thường dân sự: Bà Nguyễn Thị Bích L đã bồi thường số tiền 500.000 đồng cho ông Nguyễn Thái B để sửa chữa điện thoại bị hư hỏng. Ông Nguyễn Thái B đã nhận lại tài sản cùng số tiền bồi thường 500.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm, ông Trần Văn L1 không yêu cầu T trả lại số tiền 100.000 đồng nên không xem xét, giải quyết phần bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS.HBB ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội:“Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp dụng: Điểm e khoản 2 Điều 168; Điểm b, s; Khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 91, điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Ông Trần Văn L1 cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua điện thoại nên không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T khai: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/9/2023 tại thôn B, xã B, huyện B. Bị cáo Nguyễn Văn T đã dùng tay kẹp mạnh vào cổ Nguyễn Tuấn K đang cầm điện thoại Samsung A10S trên tay làm cho K không thể chống đỡ được và dùng tay giật lấy chiếc điện thoại Samsung A10S, trị giá 1.107.000 đồng mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị phát hiện.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như

vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đọat tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội phải bị xử lý nhưng do bản chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, bị cáo đã dùng vũ lực để thực hiện hành vi cướp tài sản. Bị cáo phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đối tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì thế, nghĩ nên áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định.

Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi còn nhiều hạn chế. Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm. Ông Trần Văn L1 cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua điện thoại nên HĐXX không xem xét

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “ Cướp tài sản”.

    Áp dụng: Điểm e Khoản 2 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 91, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 ( Một ) năm 06 ( Sáu) tháng tù .Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

  2. Về án phí:

    Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/5/2024). Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - UBND xã Bình Tân
  • - Bị cáo, bị hại.
  • - Lưu hồ sơ vụ án, V.P.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Quốc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cướp tài sản

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger