|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26 tháng 8 năm 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 199/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị C, sinh năm 1981(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Khúc Thanh S, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Số nhà B, ngõ B, đường V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: Phòng 8, tầng E, nhà A, tập thể Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 17/5/2023 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Khúc Thanh S sau một thời gian tự do tìm hiểu đã được được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và về chung sống với nhau từ năm 2004. Nhưng do điều kiện mải làm ăn kinh tế và con bé nên đến năm 2010 anh chị mới thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp giấy đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi cưới, chị và anh S chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S không quan tâm đến gia đình vợ con. Một mình chị phải gánh vác kinh tế cho cả gia đình. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo mong anh S thay đổi, nghĩ đến gia đình vợ con để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh S không hề thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng đỉnh điểm vào khoảng năm 2021, chị chính thức sống ly thân với anh S. Vợ chồng không còn liên lạc, hỏi han hay quan tâm gì đến nhau nữa. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Khúc Thanh S.
- Về con chung: Chị và anh S có bốn con chung là Khúc Phương N - sinh ngày 27/4/2005, Khúc Thanh T - sinh ngày 05/1/2008, Khúc Minh C1 – sinh ngày 09/8/2010 và Khúc Đình D, sinh ngày 16/01/2017. Khi vợ chồng ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Khúc Thanh T và Khúc Minh C1 và đồng ý để anh S tiếp tục nuôi dưỡng cháu Khúc Đình D. Đối với cháu Khúc Phương N đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: chị và anh S không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Khúc Thanh S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị C được tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố B. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận không xảy ra mâu thuẫn gì. Tuy nhiên từ khoảng tháng 10/2022, chị C tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ để ở và sống ly thân với anh. Đến nay, chị Đỗ Thị C yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị C có bốn con chung là Khúc Phương N - sinh ngày 27/4/2005, Khúc Thanh T - sinh ngày 05/1/2008, Khúc Minh C1 – sinh ngày 09/8/2010 và Khúc Đình D, sinh ngày 16/01/2017. Trong trường hợp ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung là Khúc Phương N và Khúc Đình D, đồng ý để chị C được nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung là Khúc T và Khúc Minh C1. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh và chị C tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Tại Biên bản xác minh ngày 25/7/2023, tổ trưởng tổ dân phố Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang cung cấp như sau: Trước đây, anh Khúc Thanh S và chị Đỗ Thị C cùng sinh sống tại phòng 8, tầng E, nhà I, chung cư Đ, phường L, thành phố B. Tuy nhiên, từ tháng 10/2022 cho đến nay, chị C không còn sinh sống với anh S tại địa chỉ trên nữa. Hiện nay chỉ còn anh S và các con ở tại phòng 8, tầng E, nhà I, chung cư Đ, phường L, thành phố B.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải nhiều lần nhưng anh Khúc Thanh S đều vắng mặt.
Tại phiên tòa ngày 15/8/2023: Bị đơn vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa
Tại phiên tòa ngày 26/8/2023: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu và lời khai của các đương sự có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị C được ly hôn anh Khúc Thanh S
- + Về con chung: Giao con chung Khúc Thanh Trà - sinh ngày 05/1/2008, Khúc Minh C1 – sinh ngày 09/8/2010 cho chị C nuôi dưỡng. Giao con chung Khúc Đình D, sinh ngày 16/01/2017 cho anh S nuôi dưỡng.
- + Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Khúc Thanh S có hộ khẩu thường trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền, đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Chị Đỗ Thị C và anh Khúc Thanh S kết hôn ngày 28/9/2010 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị C xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Anh S trình bày vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị C. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhưng anh S đều vắng mặt. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C.
[4] Về con chung:
[4.1] Đối với con chung là Khúc Phương N - sinh ngày 27/4/2005 do đã trưởng thành, phát triển bình thường, chị C anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.1] Đối với con chung là Khúc Thanh T - sinh ngày 05/1/2008, Khúc Minh C1 – sinh ngày 09/8/2010 và Khúc Đình D, sinh ngày 16/01/2017. Chị C và anh S đều nhất trí để chị C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung là Thanh T và Minh C1, anh S tiếp tục nuôi dưỡng con chung Đình D. Do vậy, để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển tâm, sinh lý, ổn định việc học tập và sinh hoạt của con chung, cần giao con chung Khúc Thanh T và Khúc Minh C1 cho chị C nuôi dưỡng, giao con chung Khúc Đình D cho anh S nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 7 tuổi và quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4.2]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4.3] Chị C và anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị C được ly hôn anh Khúc Thanh S.
- Về con chung: Giao chị Đỗ Thị C quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Khúc Thanh T - sinh ngày 05/1/2008, Khúc Minh C1 – sinh ngày 09/8/2010. Giao anh Khúc Thanh S quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Khúc Đình D, sinh ngày 16/01/2017.Về cấp dưỡng nuôi con do các bên đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị C, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002317 ngày 21/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác định chị C đã thi hành xong án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: - VKSND TP. Bắc Giang; - CCTHADS TP. Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - UBND phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. - Các đương sự; - Lưu HS, VP. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Mạnh Thắng |
Bản án số 53/2023/HNGĐ-ST ngày 26/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 53/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Tranh chấp về nuôi con
