|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Kim Tiến.
Bà Lê Thị Xuân Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P (Tái), sinh ngày 11 tháng 12 năm 1975 tại Long An; Nơi cư trú: Số E, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn R và bà Trần Thị M; Vợ Thái Thị Lệ M1 và có 02 con chung; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị bắt tạm giam từ ngày 30 tháng 8 năm 2023 đến nay, bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Huỳnh Phước H và bà Nguyễn Thị Mai C là Luật sư Công ty TNHH H1 thuộc đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.
- Bị hại: Ông Phan Thanh V, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại V: Ông Thái Hoàng D – Luật sư Chi nhánh V1 luật sư Nguyễn Hòa B thuộc đoàn luật sư tỉnh L, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1981.
Nơi cư trú: Ô 6, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, có mặt.
- Bà Trương Thị M2 (N), sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Áp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1966, có mặt.
- Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1966, xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người tham gia tố tụng khác
- Người làm chứng: Ông Lê Anh T1, sinh năm 1981, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 3 năm 2023, do ghen tuông giữa vợ đã ly hôn tên Trương Thị M2 (N) với bị cáo Nguyễn Văn P nên bị hại Phan Thanh V đi tìm bị cáo Nguyễn Văn P để nói chuyện. Khi đến nhà bà Nguyễn Thị P1 (chị ruột bị cáo P) thuộc Ô 6, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, ông V lớn tiếng chửi “Đụ mẹ ông T2 đâu rồi, ra gặp tao nè”, bà P1 nghe tiếng ông Vũ 1 nên chạy ra sân hỏi ông V “mầy là ai, không có ai ở nhà hết, chỉ có tao với ông Võ Văn Đ (chồng bà P1) ở nhà thôi, làm ơn về nhà giùm tao đi bây”. Lúc này, bị cáo P đang ở nhà sau của nhà bà P1 chạy ra, bị cáo P đứng trên thềm bước xuống nhà, ông V ngoài sân đứng đối diện, nói lớn tiếng qua lại khoảng 02-03 phút, ông V cầm con dao phay dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m để sẵn trên xe của ông V đứng dậy xông về hướng bị cáo P để đánh bị cáo P. Bị cáo P chụp được cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2m đánh về hướng ông V nhưng không trúng, ông Vũ 11 lại phía sau té ngã, bị cáo P ném cây lau nhà và nhặt một con dao cán màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn để dưới nền nhà cầm trên tay trái, mũi dao và ngón cái cùng một hướng đâm một cái vào vùng bụng bên phải của ông V gây thương tích. Sau đó, ông V và bị cáo P giằng co nhau, bị cáo P cầm dao đâm trúng vùng đùi phải, vùng lưng bên trái của ông V gây thương tích. Lúc này, bà P1 gọi chồng là ông Võ Văn Đ ra can ngăn. Ông Võ Văn Đ đến giật con dao phay của ông V đang câm ném đi, kéo ông V ra và nói là anh em sao có vụ gì đánh lộn nhau vậy và kêu ông V thôi về nghỉ đi gây gỗ gì nữa, ông V lên xe môtô bỏ về đến nhà ông Nguyễn Huỳnh Ngọc T và được ông T đưa đi cấp cứu. Đến ngày 12 tháng 3 năm 2023, ông Nguyễn Huỳnh Ngọc T đến Công an thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An trình báo sự việc trên.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 (một) con dao cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn; 01 (một) cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2 m; 01 (một) con dao dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 172/KLTTCT-TTPY ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết Luận:
- 01 sẹo nhỏ vùng lưng trái có tỷ lệ 01% (Một phần trăm).
- 01 sẹo nhỏ vùng ngực trái có tỷ lệ 01% (Một phần trăm).
- 01 sẹo trung bình vùng hố chậu phải có tỷ lệ 02% (Hai phần trăm).
- 01 sẹo lớn vùng giữa bụng dưới rốn có tỷ lệ 03% (Ba phần trăm).
- 01 sẹo nhỏ vùng bụng bên trái dưới rốn có tỷ lệ 01% (Một phần trăm).
- Tổn thương màng phổi không để lại di chứng có tỷ lệ 04% (Bốn phần trăm).
- Tổn thương nối mạc lớn có tỷ lệ 04% (Bốn phần trăm). Trường hợp mở ổ bụng xử trí thủng mạc nối lớn có tỷ lệ 13% (Mười ba phần trăm).
Quyết định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phan Thanh V là 26%”.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, bị hại V đã nhận số tiền 15.000.000đồng khắc phục một phần hậu quả.
Luật sư H trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo P: Thống nhất với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa về tội danh và Điều luật áp dụng nhưng khi quyết định hình phạt xin Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo P: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội có lỗi một phần của người bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã nộp số tiền 23.000.000đồng để khắc phục một phần trách nhiệm cho bị hại, bị hại tại Tòa xin giảm nhẹ hình phạt, xin bãi nại, xin rút yêu cầu khởi tố, bị cáo đã ly hôn, hiện đang nuôi con và cha mẹ già thường xuyên bệnh tật được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt của Viện kiểm sát đã truy tố.
Luật sư Mai C trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo P: Thống nhất với quan điểm bào chữa của luật sư H, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.
Luật sư D trình bày quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích cho bị hại V: Thương tích 26% của bị hại V là do bị cáo P gây ra nên bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về trách nhiệm hình sự: Xin giảm nhẹ hình phạt, xin bãi nại, xin rút yêu cầu khởi tố cho bị cáo P.
Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo P bồi thường cho bị hại V tổng số tiền 57.024.773đồng, được khấu trừ số tiền 23.000.000đồng mà bị hại V đã nhận.
Bị hại V trình bày: Thống nhất với quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích của Luật sư D và không trình bày bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị P1 trình bày: Xác định ngày 11 tháng 3 năm 2023, giữa bị cáo P và bị hại V có xảy ra xích mích đánh nhau tại nhà bà thuộc Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tar Công an huyện Đ có thu giữ của bà 0 (một) cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2 m; 01 (một) con dao dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m.
Về trách nhiệm dân sự: Bà không yêu cầu gì và bà không yêu cầu nhận lại tài sản đã thu giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý theo yêu cầu của bị hại và xin lỗi bị hại. Đồng thời, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự – thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này), điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2023.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự:
Về tang vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn; 01 (một) cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2 m; 01 (một) con dao dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại V yêu cầu bị cáo P bồi thường tổng số tiền 57.024.773đồng bao gồm: tiền viện phí là 10.524.733đồng, chi phí nuôi bệnh 15 ngày là 4.500.000đồng, thiệt hại lao động 04 tháng là 12.000.000đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần là 30.000.000đồng. Bị cáo P đã bồi thường số tiền 23.000.000đồng, còn lại 34.024.733đồng buộc bị cáo P tiếp tục bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Võ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P1: Không yêu cầu nhận lại 01 cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2 m; 01 (một) con dao dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m và không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự trên nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Đối với 01 vết thương vùng đùi phải của bị hại Phan Thanh V không được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án và giấy chứng nhận thương tích, Kết luận giám định của Trung tâm pháp y Sở Y không xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với vết thương trên. Bị hại V xác định thương tích không đáng kể nên có đơn xin từ chối giám định bổ sung, không yêu cầu xử lý đối với vết thương nêu trên nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm. Tất cả sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 3 năm 2023, do ghen tuông giữa vợ đã ly hôn tên Trương Thị M2 với bị cáo Nguyễn Văn P nên bị hại Phan Thanh V tìm đến nhà của bà Nguyễn Thị P1 là chị ruột bị cáo P thuộc Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An tìm bị cáo Nguyễn Văn P nói chuyện và tại đây giữa bị hại V và bị cáo P xảy ra mâu thuẫn. Bị cáo P sử dụng hung khí nguy hiểm là một con dao cán màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn để dưới nền nhà cầm trên tay trái, mũi dao và ngón cái cùng một hướng đâm một cái vào vùng bụng bên phải của bị hại V gây thương tích. Sau đó, bị hại V và bị cáo P giằng co nhau, bị cáo P cầm dao đâm trúng vùng đùi phải, vùng lưng bên trái của bị hại V gây thương tích cho bị hại V với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 26%.
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn P (T2) trước Tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của những người làm chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận, bị cáo Nguyễn Văn P (T2) phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này).
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn P (T2) gây ra là nguy hiểm.
Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại V mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó là sẽ gây thương tích cho bị hại nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và để mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cân xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường số tiền 23.000.000đồng để khắc phục một phần trách nhiệm dân sự, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đang nuôi con và cha mẹ già được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo nên theo lời đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với 01 (một) con dao dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m. Xét đây là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.2] Đối với 01 (một) con dao cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn; 01 (một) cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2 m. Xét đây là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[6.1] Bị hại Phan Thanh V yêu cầu bị cáo P bồi thường tổng số tiền 57.024.773đồng bao gồm: Tiền viện phí là 10.524.733đồng, chi phí nuôi bệnh 15 ngày là 4.500.000đồng, thiệt hại lao động 04 tháng là 12.000.000đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần là 30.000.000đồng. Bị cáo P đã bồi thường số tiền 23.000.000đồng, còn lại 34.024.733đồng, được bị cáo P đồng ý. Xét sự thỏa thuận giữa bị cáo P và bị hại V là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Võ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P1 không yêu cầu nhận lại 01 (một) con dao cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn; 01 (một) cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2 m. Đồng thời, ông Đ và bà P1 không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Đối với 01 vết thương vùng đùi phải của bị hại Phan Thanh V không được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án và giấy chứng nhận thương tích.
Kết luận giám định của Trung tâm pháp y Sở Y không xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với vết thương trên và bị hại V xác định thương tích không đáng kể nên có đơn xin từ chối giám định bổ sung, không yêu cầu xử lý đối với vết thương nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[8] Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Văn P (T2) phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm. Tất cả sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 1 và khoản 3 Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P (T2) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 26 tháng 4 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Phan Thanh V tổng số tiền 57.024.773đồng bao gồm: Tiền viện phí là 10.524.733đồng, chi phí nuôi bệnh 15 ngày là 4.500.000đồng, thiệt hại lao động 04 tháng là 12.000.000đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần là 30.000.000đồng được khấu trừ số tiền 23.000.000đồng bị cáo P đã bồi thường, còn lại 34.024.733đồng. Buộc bị cáo P tiếp tục bồi thường cho bị hại V số tiền 34.024.733đồng.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 0,39m, cán gỗ tròn có đường kính 0,03m dài 0,13m, lưỡi dao bằng kim loại dài 0,26m nhọn phần đầu, nơi rộng nhất là 0,05m; 01 (một) con dao cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,25cm, rộng 1,8cm, mũi nhọn; 01 (một) cây lau nhà bằng kim loại màu trắng dài 1,2m.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo biên lai thu số 61-19/02/2024 ngày 19 tháng 02 năm 2024.
Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P (Tái) nộp 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.701.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Tất cả sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: co y
