| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H TỈNH K |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 53/2024/HS-ST. | |
| Ngày: 25/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H - TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn N.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn K và ông Hà Văn Th.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H, tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với:
Bị cáo: A T; Tên gọi khác: A T1; Sinh ngày: 01/3/2005; Nơi sinh: tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tơ Đrá; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ: Không; Nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K. Con ông A T2; Sinh năm: 1983 và bà Y Ly H; Sinh năm: 1985. Bị cáo chung sống như vợ chồng (chưa đăng ký kết hôn) với Y T3; sinh năm: 2001 và có 01 con chung tên Y T4, sinh năm 2023. Tiền sự, tiền án: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: A T5, sinh năm 2013 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh A Y, sinh năm 1990 và chị Y Đ, sinh năm 1985; Cùng cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K. (Đều có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh A T2, sinh năm 1983 và chị Y Ly H, sinh năm 1985; Cùng cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K (Đều có mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh A Q, sinh năm 2010.
Người đại diện hợp pháp của anh A Q: Ông A Đ1; Cùng cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K.
+ Anh A S, sinh năm 2011;
Người đại diện hợp pháp của anh A S: Chị Y V; Cùng cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K
(Những người làm chứng và người đại diện đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 21/3/2024, A T điều khiển xe máy kéo kéo theo rơmooc tự chế chở mỳ thuê đến trạm câm “Tùng Nhi” tại thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K. Trên đường đi, A T cho A Q (sinh năm 2010), A S (sinh năm 2011) và A T5 (sinh năm 2013; cùng trú tại thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K) ngồi trên xe đi chơi cùng. Đến khoảng 16h40 cùng ngày, khi bốc mỳ xong, A T để A T5 ngồi trên buồng lái xe máy kéo cùng mình còn A Q, A S ngồi phía sau rơmooc rồi A T điều khiển xe máy kéo kéo theo rơmooc tự chế lưu thông trên Tỉnh lộ 671 hướng từ xã N, huyện Đ đi xã Đ, thành phố K để về nhà. Thời điểm này là giờ tan học của các học sinh, A T điều khiển xe máy kéo đi chậm và đi bên phải đường theo hướng di chuyển. Lúc này, A T5 thấy các bạn đi học về trên đường nên đứng ở khu vực buồng lái phía bên trái của xe máy kéo, tay trái nắm vào thành buồng lái, người vươn ra ngoài đồng thời tay phải khua vẫy trêu đùa các bạn đi đường. Thấy nguy hiểm, A T nhắc nhở A T5 “mày ở đường hoàng đi” thì A T5 ngồi xuống sàn buồng lái tại vị trí chân dậm côn bên trái xe máy kéo. Sau khi được nhắc nhở, A T5 ngồi yên một đoạn khoảng 20m thì tiếp tục đứng lên, tay trái nắm vào thanh sắt thành buồng lái bên trái, nhoài người vươn ra ngoài, tay phải khua vẫy trêu đùa các bạn đi đường dẫn đến phần cổ áo bị bánh xe sau bên trái của xe máy kéo quấn và kéo A T5 ngã xuống đường, A T5 bị bánh sau bên trái xe máy kéo cán qua người làm A T5 tử vong.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Tỉnh lộ 671 đoạn thuộc thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh K. Mặt đường được trải nhựa phẳng, nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường thẳng, hai bên là cây cối không có dân cư sinh sống. Hướng N là hướng đi xã Đ, thành phố K, hướng Bắc là hướng đi xã N, huyện Đ, tỉnh K.
Hiện trường để lại vị trí xe máy kéo kéo theo rơmooc không biển số; 01 (một) vết máu (ký hiệu VM); vị trí nạn nhân A T5 (ký hiệu NN).
Lấy chiều hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng xã N, huyện Đ đi xã Đ, thành phố K. Các số đo tính đến mép đường nhựa bên phải theo hướng khám nghiệm.
Qua đo đạc thu được kết quả: Lòng đường rộng 3,9m; không có vạch kẻ phân chia phần đường. Xe máy kéo kéo theo rơmooc dừng ở trên đường; các bánh xe máy kéo kéo theo rơmooc bên phải nằm trên lề đất. Đầu xe quay hướng N, đuôi xe quay hướng Bắc. Trục trước bên trái xe máy kéo kéo theo rơmooc đến mép đường nhựa bên phải là 1m; Trục trước bên phải xe máy kéo kéo theo rơmooc đến mép đường nhựa bên phải là 0,8m; Trục sau bên trái xe máy kéo kéo theo rơmooc đến mép đường nhựa bên phải là 1,2m; Trục sau bên phải xe máy kéo kéo theo rơmooc đến mép đường nhựa bên phải là 1m. Trục bên trái rơmooc đến mép đường nhựa bên phải là 1,25m; Trục bên phải rơmooc đến mép đường nhựa bên phải là 0,8m.
Hiện trường để lại 01 (một) vết máu, không rõ hình; vết máu có kích thước (1,2x0,35)m. Từ tâm vết máu đến mép đường nhựa bên phải là 1,7m. Nạn nhân A T5 nằm trên đường, đầu quay về hướng Tây, chân quay hướng Đông. Từ đầu nạn nhân đến mép đường nhựa bên phải là 2,1m; đến trục trước bên trái xe máy kéo kéo theo rơmooc là 24,6m, đến trục sau bên trái xe máy kéo kéo theo rơmooc là 22,4m, đến trục bên trái của rơmooc là 18,2m.
Vị trí đầu nạn nhân A T5 có tọa độ 268T 14°28′54″B 108'2'24"Đ. Trục trước bên trái xe máy kéo kéo theo rơmooc có tọa độ 180°N 14°28′53″B 108°2'23"Đ.
* Kết quả khám nghiệm tử thi A T5:
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 30/KLGĐTT-TTPY ngày 26/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận:
1. Các kết quả chính:
* Kết quả khám nghiệm:
- - Đầu, mặt: Hai mắt nhắm, miệng khép hờ, tai phải - mũi có máu, tai trái không có máu; miệng không có máu. Vết thương thái dương - trán - gò má bên trái lộ xương sọ kích thước (20x02)cm.
- - Cổ: Cổ lỏng.
- - Ngực: 02 vết xây xát da ngực bên trái kích thước (12x06)cm và (06x01)cm. Không có dấu hiệu gãy xương lồng ngực.
- - Tay: Xây xát da 1/3 trên cẳng tay bên phải kích thước (12x1,5)cm. Xây xát da cổ tay bên phải kích thước (04x0,5)cm. Xây xát da cánh tay bên trái kích thước (15x05)cm. Hai tay không có dấu hiệu gãy xương.
- - Chân: Xây xát da gối bên trái kích thước (10x06)cm. Xây xát da mắt cá trong chân bên trái kích thước (03x01) cm. Xây xát da gót chân bên trái kích thước (02x1,5)cm. Xây xát da mắt cá ngoài chân bên trái kích thước (07x02)cm. Gãy 1/3 dưới xương đùi bên trái.
- - Đầu: Mở rộng vết thương thái dương - trán - gò má bên trái kiểm tra không thấy tổn thương xương sọ vùng trán - thái dương bên trái. Rạch da vùng thái dương bên phải tổ chức da mô cơ bầm tụ máu bóc tách cơ kiểm tra thấy vỡ xương sọ thái dương phải, thấy tổ chức não.
* Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
* Kết quả khác: Không.
2. Kết luận: Nguyên nhân chết của A T5 do đa chấn thương.
* Kết luận giám định tư pháp đối với phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông: Phương tiện máy kéo (có kéo một rơmooc chở hàng) không có biển kiểm soát
- Dấu vết liên quan đến tai nạn: Không kiểm tra.
- Về tình trạng an toàn kỹ thuật:
+ Máy kéo: Tại thời điểm kiểm tra, máy kéo trên không có các tài liệu kỹ thuật nào liên quan đến phương tiện nên không áp dụng được quy chuẩn, tiêu chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải, vì vậy giám định tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải không có cơ sở để giám định tình trạng an toàn kỹ thuật.
+ Rơmooc chở hàng: Có 01 trục, có 01 cầu; không có đèn tín hiệu, tấm phản quang; cơ cấu mooc kéo tự chế tạo, lắp ráp chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Rơ mooc chở hàng tự độ chế nên không áp dụng được quy chuẩn, tiêu chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải, vì vậy giám định tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải không có cơ sở để giám định tình trạng an toàn kỹ thuật.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, chất kích thích:
Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở do cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Đ thực hiện lúc 19:28 ngày 21/3/2024 với A T (A T6) cho kết quả: 0.00 mg/L.
Tại phiếu kết quả test nhanh chất gây nghiện thực hiện lúc 19:32 ngày 21/3/2024 với A T (A T6) cho kết quả âm tính các chất gây nghiện.
* Về giấy phép lái xe: A T không có giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ đủ điều kiện điều khiển xe máy kéo kéo theo rơmooc tham gia giao thông.
Tại bản cáo trạng số: 45/CT-VKSĐH ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, đã truy tố bị cáo A T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, truy tố bị cáo A T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo A T từ 12 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe máy kéo kéo theo rơmooc không biển kiểm soát, là tài sản duy nhất dùng làm kế sinh nhai, thuộc sở hữu của ông A T2 và bà Y Ly H mua hợp pháp để phục vụ chở nông sản cho gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông A T2 và bà Y Ly H.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo A T bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người làm chứng và người đại diện hợp pháp của họ đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người làm chứng, đại diện hợp pháp của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, vì đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo A T phù hợp với lời khai của bị cáo trước đó tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 21/3/2024, khi điều khiển xe máy kéo kéo theo rơmooc di chuyển trên Tỉnh lộ 671 theo hướng xã N, huyện Đ đi xã Đ, thành phố K để về nhà. Mặc dù, không thuộc trường hợp được phép chở người trên xe chở hàng nhưng A T vẫn để A T5 ngồi trên buồng lái của xe máy kéo chỉ có một ghế ngồi cho người lái và để A Q, A S ngồi ở sau rơmooc. Quá trình xe di chuyển trên đường, thấy A T5 nhoài người ra ngoài trêu đùa các bạn đi đường, biết A T5 đùa nghịch như vậy là nguy hiểm A T nhắc nhở “mày ở đường hoàng đi” nhưng vẫn để A T5 ngồi trên buồng lái và A T5 tiếp tục nhoài người ra ngoài để trêu đùa các bạn đi đường dẫn đến phần cổ áo của A T5 bị bánh xe sau bên trái của xe máy kéo quấn và kéo A T5 ngã xuống đường, A T5 bị bánh sau bên trái xe máy kéo cán qua người dẫn đến tử vong. Hành vi trên của A T đã vi phạm Điều 21 của Luật Giao thông đường bộ; khi điều khiển xe máy kéo kéo theo rơmooc tham gia giao thông bị tai nạn A T chưa có giấy phép lái xe theo quy định đã vi phạm Điều 59 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo A T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi để A T5 ngồi trên buồng lái của xe máy kéo và chưa có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông của A T đã vi phạm Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của A T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể quan trọng được pháp luật công nhận và bảo vệ đó chính là những quy định của Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ dẫn đến xâm phạm đến tính mạng của người khác. Vụ tai nạn giao thông đã gây nên hậu quả làm A T5 tử vong. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo A T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 61.370.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi ngàn đồng), đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[5.3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nông, thu nhập không ổn định; hành vi của bị cáo là vô ý. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm đối với bị cáo.
[7] Về đánh giá, xử lý vật chứng của vụ án: 01 (một) xe máy kéo kéo theo rơmooc không biển kiểm soát (tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết cụ thể).
Quá trình điều tra, xác minh xác định: Xe máy kéo kéo theo rơmooc tự chế không có biển số thuộc sở hữu của ông Nguyễn Minh T7 (sinh năm 1979; trú tại thôn A, xã Đ, thành phố K, tỉnh K). Xe máy kéo được ông T7 mua hơn 10 năm trước tại một tiệm nông cơ tại thành phố P, tỉnh Gi (do thời gian đã lâu ông T7 không còn nhớ tên, địa chỉ cụ thể cửa hàng); R do ông T7 tự chế. Đến ngày 20/3/2022, do không còn nhu cầu sử dụng, ông T7 bán cho vợ chồng ông A T2, bà Y Ly H (bố, mẹ bị cáo A T) với giá 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Sau đó, ông A T2 và bà Y Ly H sử dụng làm phương tiện để làm ăn.
Tại phiên tòa ông A T2 và bà Y Ly H trình bày là chủ sở hữu chiếc xe trên và là tài sản duy nhất nó mang lại thu nhập, nguồn kiếm sống chính của gia đình, việc A T tự ý lấy xe đi gây tai nạn dẫn đến chết người là ngoài ý muốn; việc A T tự ý lấy xe máy kéo đi chở mỳ thuê ngày 21/3/2024 thì ông A T2, bà Y Ly H hoàn toàn không biết. Ngoài ra phương tiện này không phải vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại chiếc xe máy kéo trên cho ông A T2 và bà Y Ly H để sử dụng làm phương tiện làm ăn là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 61.370.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi ngàn đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy phù hợp, nên không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo A T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo A T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự;
T8 trả lại 01 (một) xe máy kéo kéo theo rơmooc không biển kiểm soát (tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết cụ thể) cho chủ sở hữu ông A T2 và bà Y Ly H.
(Vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 24/QĐ-VKS ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo A T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 25/9/2024, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quách Văn N |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H - TỈNH K về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ. H - TỈNH K
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo A Thip về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
