|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/DS-PT
Ngày 25-7-2024
“v/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Duy Ước.
- Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Tuấn.
- Ông Bùi Đức Tuấn.
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Hải, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Bà Lam Thị Dung, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 80/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968.
Nơi cư trú: xóm Đ, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn: Ông Hoàng Mạnh P.
Nơi cư trú: khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt. -
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1961 và bà Lê Thị C, sinh năm 1964. Cùng cư trú tại: xóm B, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Đều có đơn xin xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích của ông Nguyễn Văn R: bà Nguyễn Thị G, Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Số I L, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích của bà Lê Thị C: ông Đỗ Ngọc T, Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Số I L, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1995. Nơi cư trú: thôn A, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:
Bà Nguyễn Thị M là em ruột của ông Nguyễn Văn R. Khoảng tháng 4 năm 2009, vợ chồng ông R, bà C có chuyển nhượng cho bà M một mảnh đất vườn có diện tích 01 sào 10 thước B (khoảng 600m²) với giá 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Do tin tưởng là anh em trong nhà nên khi chuyển nhượng không viết giấy tờ, không gọi người đến đo đạc, xác định vị trí thửa đất, không đi làm thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ông R chỉ nói đất ở liền kề nhà ông R, ba cạnh còn lại giáp ao. Bà M đã trả đủ tiền cho ông R vào năm 2009. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà M cũng không sử dụng đất vì chưa có nhu cầu nên vẫn để ông R tiếp tục sử dụng, và bà cũng không nộp thuế đất. Đến năm 2019, bà M được biết ông R đã bán mảnh đất trên cho người khác với giá 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Vì lý do đó, nên bà M và ông R đã xảy ra xô xát, đánh nhau. Sau đó, ông R cho con gái là Nguyễn Thị P1 đến đưa cho bà 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) nói là ông R trả tiền đất. Chị P1 tự viết giấy ghi “Ngày 16/8/2019, cháu P1 chuyển cho cô M 50.000.000đ” và đưa cho bà M giữ tờ giấy này (bản photo). Bà M có giữ số tiền này để làm bằng chứng về việc mua bán đất trước đây giữa bà và ông R, chứ không phải là bà nhận tiền bán đất của ông R.
Do ông R lật lọng, bán cho người khác mảnh đất đã bán cho bà M nên bà M khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào tháng 4 năm 2009 giữa bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn R, bà Lê Thị C. Buộc ông Nguyễn Văn R, bà Lê Thị C phải thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 600m² đất vườn tại thôn A xã T, thị xã Q cho bà M. Bà M sẽ trả lại cho ông R số tiền 50.000.000đ. Trường hợp giao dịch dân sự trên vô hiệu, bà không có yêu cầu giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu.
Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 28/12/2023 và tại phiên toà sơ thẩm, bà M cho rằng, nếu ông R xác định thửa đất chuyển nhượng cho bà có vị trí phía Nam giáp đất nhà ông Vịnh X, phía Tây giáp nhà anh P2, phía Bắc và Đ giáp nhà anh X1, địa chỉ tại thôn A, xã T, thị xã Q thì bà M cũng nhất trí đây là diện tích đất hai bên mua bán.
3
Bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Tại các bản tự khai và biên bản lấy lời khai, ông R khai không bán đất cho bà M. Đến phiên hòa giải ngày 19/5/2023, ông R lại thừa nhận vào năm 2009 ông R có bán cho bà M một thửa đất với giá 7.000.000đ, có vị trí cụ thể: Vị trí phía Nam giáp nhà ông Vịnh X, phía Tây giáp nhà anh P2, phía Bắc và Đ giáp nhà anh X1, có diện tích 01 sào 10 thước Bắc Bộ. Sau đó đến tháng 6/2019, ông R đã mua lại thửa đất đã bán cho bà M với giá 50.000.000đ và nhờ con gái là Nguyễn Thị P1 mang tiền đưa cho bà M vào ngày 16/8/2019, chị P1 tự lập biên nhận giao tiền nhưng bà M không ký. Đến năm 2021, ông R đã bán lại thửa đất này cho anh H là cán bộ địa chính xã T. Vì vậy, ông R không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M.
Ngoài ra, ông R có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, cho rằng từ thời điểm các bên giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là năm 2009 (theo đơn khởi kiện của nguyên đơn) tính đến ngày khởi kiện năm 2022 là hết thời hiệu khởi kiện.
Ngày 30/12/2023, ông R có đơn phản tố, yêu cầu Toà án công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2019 giữa ông R và bà M.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông R, bà C yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự năm 2009 giữa bà M và ông R, bà C về chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, không tuân thủ về hình thức, vi phạm các quy định tại Điều 15, Điều 106, 107 Luật Đất đai năm 2003, khoản 1 điều 103 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về thi hành Luật Đất đai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị P1 trình bày: Chị P1 xác nhận đã chuyển 50.000.000đ của ông R cho bà M, chị không biết số tiền ông R chuyển cho bà M với mục đích gì, chị chỉ chuyển hộ ông R và có viết giấy ghi ngày đưa tiền là 16/8/2019, bà M có nhận tiền nhưng không ký.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Anh H1 không nhận chuyển nhượng thửa đất nào của vợ chồng ông R bà C mà chỉ giới thiệu cho ông Ngô Đăng T1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 132 tách ra từ thửa 62 tờ bản đồ mới số 26 tại địa chỉ Xóm A, xã T từ ông R, bà C có diện tích 446m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 599541, số vào sổ CH 03021 ngày 14/8/2020 do UBND thị xã Q cấp cho ông R, bà C. Theo anh H1 được biết, ông R, bà C và ông T1 thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vào ngày 25/8/2020.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022, bà M chỉ dẫn vị trí đất ông R chuyển nhượng là một phần thửa 223 tờ P13 bản đồ địa chính năm 1996, diện tích đo đạc theo chỉ dẫn là 177,6m² (đất trồng cây lâu năm). Nguồn gốc thửa đất trước đây là đất ao, đến năm 2019 vợ chồng ông R đổ đất làm vườn và sử dụng cho đến nay. Hội
4
đồng định giá tại cấp sơ thẩm kết luận diện tích 177,6m² có giá 8.883.000₫ (50.000đ/m²). Ngày 26/8/2022, bà M có đơn đề nghị trình bày do diện tích bà tự ý dẫn đạc tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 là không đúng nên bà đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ lại.
Ngày 14/9/2022, bị đơn bà Lê Thị C có đơn đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu. Ngày 30/9/2022, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên ra Quyết định số 12/2022/QÐST-DS đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự với lý do thời hiệu khởi kiện đã hết. Ngày 11/10/2022, bà M kháng cáo Quyết định đình chỉ trên, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ Quyết định, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Ngày 27/12/2022, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 16/2022/QĐPT-DS huỷ Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự số 12/2022/QÐST-DS, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên để tiếp tục giải quyết vụ án.
Sau đó, vào ngày 14/9/2023, tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ, bà M chỉ dẫn vị trí đất nhận chuyển nhượng của ông R là một phần thửa 223 tờ bản đồ số P13 (thuộc thửa 59 tờ 26 Bản đồ địa chính năm 2012), diện tích 611,1m² (đất vườn, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), do vợ chồng ông R đang sử dụng, vị trí tứ cận: phía Đông giáp thửa đất số 222 tờ bản đồ P13 (đất của ông R, bà C đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), phía Tây giáp thửa đất số 61, phía Bắc giáp thửa đất số 60, phía Nam giáp ngõ đi.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 128, Điều 138, Điều 688, Điều 689, Điều 691 và Điều 699 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 154, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2003, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà M với bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Lê Thị C; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc buộc bị đơn ông R, bà C phải thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng 600m² đất vườn cho bà M; không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Văn R về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc “yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự, buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
5
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản) và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/4/2024, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do kết luận trong bản án sơ thẩm không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự (về xác định và đánh giá chứng cứ), sai phạm trong áp dụng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà Nguyễn Thị M giữ nguyên nội dung kháng cáo và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn không đồng ý với kháng cáo của bà M và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị M thực hiện trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn R: Xét thấy, đơn phản tố của bị đơn được nộp cho Toà án sau khi Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên đã ra quyết định xét xử đối với vụ án là không đủ điều kiện để thụ lý theo quy định tại khoản 2 điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự nên cấp Sơ thẩm không thụ lý là đúng quy định.
[3] Đối với yêu cầu của ông R về áp dụng thời hiệu khởi kiện của bà M, thấy rằng: ông R và bà M thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2009 nhưng hai bên chưa thực hiện xong hợp đồng, đến tháng 8 năm 2019 bà M biết quyền lợi của mình bị xâm phạm (được ông R qua con gái chuyển lại số tiền 50.000.000đ tiền mua đất), đến ngày 31/5/2021 bà M thực hiện quyền khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Thông báo về việc yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện số 05/TB-TA ngày 29/12/2021, đến ngày 10/01/2022, Tòa án cấp sơ thẩm ra Thông báo trả lại đơn khởi kiện số 03/TB-TA, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo bà bà M. Đến ngày 17/3/2022, bà M tiếp
6
tục khởi kiện. Như vậy, căn cứ Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà M vẫn còn, yêu cầu của ông R về áp dụng thời hiệu khởi kiện là không có căn cứ.
[4] Về yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng giữa bà Nguyễn Thị M với ông Nguyễn Văn R:
Bà Nguyễn Thị M và vợ chồng ông Nguyễn Văn R đều có lời khai vào năm 2009 hai bên có thoả thuận miệng ông R chuyển nhượng cho bà M quyền sử dụng đất vườn với giá trị 7.000.000đ, trong quá trình giải quyết vụ án về phía bà M tự xác định diện tích chuyển nhượng khoảng 600m² cạnh nhà ông R đang ở được xác định, tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/9/2023 bà M chỉ dẫn vị trí đất nhận chuyển nhượng của ông R là một phần thửa 223 tờ bản đồ số P13 (nay thuộc thửa 59 tờ 26 Bản đồ địa chính năm 2012), diện tích 611,1m² nhưng ông R không thừa nhận việc chuyển nhượng thửa đất này cho bà M và ông R xác định chuyển nhượng cho bà M thửa đất ở vị trí khác là thửa số 132, tách ra từ thửa 62 tờ bản đồ số 26 có diện tích 446m², có vị trí tứ cận: phía Nam giáp nhà ông V xồm, phía Tây giáp nhà anh P2, phía Bắc và Đ giáp nhà anh X1.
Căn cứ lời khai của bà M và ông R nêu trên có đủ cơ sở xác định năm 2009 giữa ông R và bà M có xác lập hợp đồng thoả thuận ông R chuyển nhượng cho bà M quyền sử dụng đất vườn thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông R là đúng thoả thuận của hai bên.
- Về thoả thuận nội dung hợp đồng:
Đối tượng hợp đồng hai bên thoả thuận là quyền sử dụng đất vườn: về phía nguyên đơn xác định quyền sử dụng đất là diện tích đất 611m² thuộc thửa 223 tờ bản đồ số P13 (nay thuộc thửa 59 tờ 26 Bản đồ địa chính năm 2012) nhưng ông R lại xác định thửa đất thoả thuận chuyển nhượng cho bà M là thửa đất đó là thửa số 132, tách ra từ thửa 62 tờ bản đồ số 26 có diện tích 446m² nên hai bên không thống nhất được đối tượng hợp đồng cụ thể là thửa đất nào. Bà M không có tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa bà M với ông R thoả thuận chuyển nhượng diện tích, thửa đất như bà M đã trình bày nên không đủ cơ sở xác định đối tượng chuyển nhượng là diện tích đất như bà M đã xác định. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án ông R xác định đất bán cho bà M là diện tích đất thửa số 132, tách ra từ thửa 62 tờ bản đồ số 26 có diện tích 446m² thì bà M cũng đồng ý xác đối tượng của hợp đồng là diện tích đất mà ông R xác định.
Về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên đều xác nhận giá 7.000.000đ nên đây là sự thống nhất của đương sự và là căn cứ xác định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà hai bên đã thoả thuận không trái pháp luật.
7
Các nội dung khác của hợp đồng như về nghĩa vụ bàn giao đất, thời hạn bàn giao đất, chế tài vi phạm...hai bên đều không trình bày nên không có căn cứ xác định.
- Về việc thực hiện hợp đồng:
Bà M và ông R đều xác nhận bà M đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền 7.000.000đ nên được xác định bà M đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán đối với ông R.
Ông R và bà M đều xác nhận hai bên chưa thực hiện xác định vị trí, diện tích kích thước và bàn giao quyền sử dụng đất cho nhau, đến năm 2019 ông R đã trả lại cho bà M 50.000.000đ tiền mua đất, bà M đã nhận lại số tiền mà ông R trả lại nên việc ông R không bàn giao đất và đã trả lại tiền cho bà M là hành vi không tiếp tục thực hiện hợp đồng và chấm dứt hợp đồng đối với bà M. Việc bà M1 nhận lại số tiền của ông R trả lại tiền mua đất đã thể hiện bà M biết việc ông R chấm dứt hợp đồng và bà M đã đồng ý chấm dứt hợp đồng thông qua hành vi nhận lại tiền với số tiền lớn hơn nhiều lần số tiền bà M đã thanh toán. Ngoài ra, việc chấm dứt hợp đồng của ông R còn thể hiện sau khi trả lại tiền cho bà M thì vào ngày 25/8/2020 ông R đã ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên cho ông Ngô Đăng T1 theo đúng quy định.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định bà M và ông R có thoả thuận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau nhưng ông R đã chấm dứt hợp đồng trả lại tiền cho bà M, bà M đã nhận lại tiền đây là hành vi chấm dứt hợp đồng của cả hai bên. Mặt khác diện tích đất bà M xác định ông R chuyển nhượng không đúng vị trí, kích thước, đặc điểm giống như bà M trình bày bà mua đất vườn của ông R và diện tích đất này đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đủ điều kiện chuyển nhượng; Còn diện tích đất ông R xác định bán cho bà M và bà M cũng đồng ý với diện tích đất đó là đất ông R bán cho bà thì vợ chồng ông R đã chuyển nhượng cho người khác theo đúng quy định của pháp luật nên bà M yêu cầu ông R phải thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên là không có căn cứ.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hiệu lực hợp đồng và buộc ông R thực hiện chuyển nhượng đất với bà M là không phù hợp nên cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với pháp luật. Do vậy, kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
[4.2] Về nội dung kháng cáo Toà án cấp sơ thẩm không triệu tập người làm chứng.
Trong đơn kháng cáo, bà M cho rằng Hội đồng xét xử không triệu tập bà Nguyễn Thị T2 và Nguyễn Thị T3. Xét thấy, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã triệu tập và lấy lời khai của bà T2 và bà T3, theo đó, xác định các bà không phải
8
người làm chứng đối với giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn mà chỉ được nghe bà M kể lại. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không xác định bà T2 và bà T3 là người làm chứng và không triệu tập đến phiên toà sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 12.054.000₫ (mười hai triệu, không trăm năm mươi bốn nghìn đồng). Bà M đã nộp đủ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 điều 35, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 121, 127, 424, 688, 689, Điều 692, 697, 698 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 46, Điều 127 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự, buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 600m² đất vườn tại thôn A xã T, thị xã Q cho bà M.
- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị M phải chịu 12.054.000đ (mười hai triệu, không trăm năm mươi bốn nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá. Bà M đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm
9
ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0010638 ngày 13/5/2022 và số 0003859 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Duy Ước |
Bản án số 53/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 53/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
