|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS- ST
Ngày: 25/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hòa - Bà Mai Thị Hoài Nam
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn T - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà:
Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên
Ngày 25/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST - HS, ngày 15/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST - HS ngày 15/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Trương Văn B, sinh năm: 1983; Nơi sinh: Huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 32, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Trương Văn Quý, sinh năm: 1959; mẹ đẻ bà Lương Thị Bé, sinh năm: 1960; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Thêm, sinh năm: 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2010, con nhỏ sinh năm: 2013. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 05/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lại Văn B1, sinh năm: 1978; Nơi sinh: Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 15, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Lại Xuân Năng, sinh năm: 1953; mẹ đẻ bà Trần Thị Độ, sinh năm: 1956; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Dung, sinh năm: 1984 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2011, con nhỏ nhất sinh năm: 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số: 75-QĐ/UBKTHU ngày 14/3/2024.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 07/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Như T1, sinh năm: 1989; Nơi sinh: Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Nguyễn Đăng Nguyên, sinh năm: 1963; mẹ đẻ bà Trần Thị Huệ, sinh năm: 1963; bị cáo có vợ Lò Thị Ngọc Hà, sinh năm: 1994 và có 01 con sinh năm: 2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/02/2013, Nguyễn Như T1 bị Công an huyện Tân Uyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc theo Quyết định số 257/QĐ-CA với số tiền 1.000.000 đồng, hiện đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 07/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Phạm Minh T, sinh năm: 1981; Nơi sinh: Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 17, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Phạm Hữu Chính (đã chết); mẹ đẻ bà Vũ Thị Mai, sinh năm: 1956; bị cáo có vợ Phạm Ngọc Thư, sinh năm: 1984 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2011, con nhỏ sinh năm: 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số: 76-QĐ/UBKTHU ngày 14/3/2024.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 05/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 22/02/2024, Trương Văn B, Nguyễn Như T1, Lại Văn B1 đến Nhà máy nước sạch thuộc Hợp tác xã Công nghệ và Môi trường ở bản Hô Be, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên để chơi với Phạm Minh T. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, tại phòng trực của nhà máy nước, Trương Văn B có rủ mọi người đánh bạc, cả 3 người T1, B1, T đồng ý. Sau đó B1 bảo T1 đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc, T1 mua 01 bộ bài tú lơ khơ với giá 10.000 đồng. Tại phòng trực của Nhà máy nước sạch thuộc Hợp tác xã Công nghệ và Môi trường T1, B1, T và B cùng ngồi quây tròn thống nhất hình thức chơi là đánh “Sâm” sát phạt nhau thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau: Bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân, luật chơi sâm quy định mỗi người chơi sẽ được chia 10 quân bài ngẫu nhiên, người nào thắng ván trước liền kề sẽ hỏi có ai “báo sâm” không, trường hợp nếu không có ai “báo sâm” thì người này có quyền đánh trước và đánh lần lượt theo vòng từ phải qua trái đến khi có bất kì người nào đánh hết 10 quân bài đầu tiên thì được tính là thắng ván chơi đó, những người chơi còn lại sẽ đếm số quân bài còn lại trên tay của mình để tính số tiền thua phải trả. Trường hợp có người chưa đánh được quân bài nào thì gọi là “bị treo”, nếu dùng tứ quý để chặn quân hai “2” thì được gọi là “bắt hai”, trường hợp một người “báo sâm” đánh liên tục 10 quân bài trong một lượt đánh mà không ai chặn được thì tính là “sâm”, nếu một người chơi chặn được người “báo sâm” thì được coi là bắt “sâm”. Cả 04 người cùng quy ước: Mỗi lá bài của người thua cuộc tính là 5000 đồng/lá bài, “sâm” là 100.000 đồng/người, “bắt sâm” là 300.000 đồng/lần, số tiền này người “bắt sâm” sẽ được hưởng, bài sâm bị treo gồm không đánh ra được lá bài nào hoặc người thắng có 4 lá bài 2 hoặc có 10 lá bài cùng màu hoặc có 05 đôi là 70.000 đồng/lần, người thắng ván bài trước sẽ là người chia bài ván tiếp theo và là người được quyền báo sâm hoặc đánh trước.
Đến 13 giờ cùng ngày khi T1, B1, T và B đang đánh bạc thì bị Công an huyện Tân Uyên bắt quả tang thu giữ 01 bộ bài gồm 52 quân bài, 01 chiếc chiếu cói màu vàng và thu giữ tổng số tiền đánh bạc là 5.750.000 đồng, cụ thể thu giữ của Nguyễn Như T1 số tiền đánh bạc 1.620.000 đồng, trong đó T1 thắng bạc số tiền 120.000 đồng; thu giữ của Lại Văn B1 số tiền đánh bạc 1.630.000 đồng trong đó B1 thắng bạc số tiền 180.000 đồng; thu giữ của Trương Văn B số tiền đánh bạc 1.310.000 đồng, tuy nhiên B có số tiền đánh bạc là 1.400.000 đồng và B thua bạc số tiền 90.000 đồng; thu giữ của Phạm Minh T số tiền đánh bạc 1.190.000 đồng, tuy nhiên T có số tiền đánh bạc là 1.400.000 đồng và T thua bạc số tiền 210.000 đồng
Tại bản kết luận giám định số: 363/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Số tiền 5.750.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật”.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của Trương Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 8 Plus, màu hồng trắng; thu giữ của Nguyễn Như T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Promax, màu ghi xám; thu giữ của Phạm Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s màu ghi; thu giữ của Lại Văn B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy S22+, màu xanh. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện Tân Uyên đã xử lý vật chứng trao trả cho các bị cáo theo quy định.
Vật chứng còn lại của vụ án: Số tiền 5.750.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 chiếc chiếu cói, kích thước 1,48 m x 2m, màu vàng, hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên.
Bản cáo trạng số: 25/CT - VKS - TU ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố các bị cáo Trương Văn B, Lại Văn B1, Nguyễn Như T1, Phạm Minh T về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 - Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt các bị cáo cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35- Bộ luật hình sự đối với Trương Văn B, Nguyễn Như T1.
Xử phạt bị cáo Trương Văn B từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Như T1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35- Bộ luật hình sự đối với Lại Văn B1, Phạm Minh T.
Xử phạt bị cáo Lại Văn B1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của các bị cáo còn khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 5.750.000 đồng là số tiền do các bị cáo đánh bạc; Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân; 01 chiếc chiếu cói, kích thước 1,48 m x 2m, màu vàng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thâm.
Các bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản cáo trạng và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và hứa không tái phạm, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, như vậy có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 13 giờ ngày 22/02/2024 tại Nhà máy nước sạch thuộc Hợp tác xã Công nghệ và Môi trường ở bản Hô Be, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên Trương Văn B, Nguyễn Như T1, Lại Văn B1, Phạm Minh T cùng nhau Đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” sát phạt nhau thắng thua bằng tiền với nhau, quy định: Mỗi lá bài của người thua cuộc tính là 5000 đồng/lá bài, “sâm” là 100.000 đồng/người, “bắt sâm” là 300.000 đồng/lần, số tiền này người “bắt sâm” sẽ được hưởng, bài sâm bị treo gồm không đánh ra được lá bài nào hoặc người thắng có 4 lá bài 2 hoặc có 10 lá bài cùng màu hoặc có 05 đôi là 70.000 đồng/lần. Số tiền đánh bạc cơ quan điều tra thu là 5.750.000 đồng. Như vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 - Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên truy tố các bị cáo về tội: "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 - Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Đánh giá về vai trò đồng phạm trong vụ án này: Các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công vai trò của từng người khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo B là người rủ rê các bị cáo đánh bạc, nên giữ vai trò chính, bị cáo T1 là người đi mua bài đóng vai trò thực hành tích cực, vì vậy giữ vai trò thứ hai, đối với bị cáo B1 và bị cáo T cùng tham gia đánh bạc và có nhiều tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên giữ vai trò thứ ba trong vụ án này.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của gia đình và xã hội, cũng từ hành vi “Đánh bạc” dẫn đến việc sa sút kinh tế của rất nhiều gia đình và là nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều tội phạm khác.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T có bố đẻ là ông Phạm Hữu Chính, được Nhà nước chứng nhận thương binh với thương tật hạng 21%, có Huân chương kháng chiến, bị cáo B1 có bố đẻ là ông Lại Xuân Năng cũng được Nhà nước thưởng Huân chương kháng chiến, nên cả hai bị cáo T và B1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, là những người có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương các bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào. HĐXX xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, mà khi quyết định hình phạt không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của các bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[9] Xử lý vật chứng: Số tiền 5.750.000 đồng là số tiền do các bị cáo đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân; 01 chiếc chiếu cói, kích thước 1,48 m x 2m, màu vàng cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Các vấn đề khác: Tại Nhà máy nước sạch do T đang làm việc, T không có hành vi rủ rê, hay thu tiền và không được hưởng lợi gì từ việc đánh bạc của các bị cáo, nên loại trừ hành vi tổ chức đánh bạc và hành vi gá bạc đối với Phạm Minh T. Đối với chủ Nhà máy nước sạch không biết các bị cáo đánh bạc tại khu vực nhà máy nên Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý là đúng quy định.
Về án phí hình sự sơ thầm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17, 58 - Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Văn B, Nguyễn Như T1.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17, 58 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lại Văn B1, Phạm Minh T.
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 - Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trương Văn B, Nguyễn Như T1, Lại Văn B1, Phạm Minh T phạm tội: “Đánh bạc”
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trương Văn B 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Như T1 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lại Văn B1 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.750.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân; 01 chiếc chiếu cói, kích thước 1,48 m x 2m, màu vàng.
( Tình trạng vật chứng như B bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên với Chi cục THADS huyện Tân Uyên).
- Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Phương |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |
Bản án số 53/2024/HS- ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về đánh bạc
- Số bản án: 53/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Biên+ĐP
