Hệ thống pháp luật

ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HN&GĐ-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Xuân Trường.
  2. Ông Lưu Trọng Kim.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường, vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HN&GĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Yến O, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Đường số 7, tổ 1, thôn 2, xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Số 62, đường số 36, tổ 6, thôn 2, xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" đề ngày 05/11/2023 cùng các bản tự khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì việc trình bày của chị Lâm Thị Yến O thể hiện:

Về hôn nhân:Chị và anh Nguyễn Tấn Q tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và đi đến kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng nhận kết hôn số: 37, ngày 25/3/2022. Sau quá trình chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nhiều bất đồng. Nguyên nhân chủ yếu do anh Q thường xuyên rượu chè, cờ bạc gây nợ nần và không quan tâm đến gia đình, vợ con. Dần về sau mâu thuẫn càng lớn, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị xác định không còn tình cảm yêu thương, quý trọng đối với anh Q nữa. Nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị với anh Q có với nhau 01 người con chung tên: Nguyễn An N, sinh ngày 25/01/2023. Trường hợp được Tòa án giải quyết ly hôn chị yêu cầu được là người trực tiếp nuôi dưỡng người con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con:Chị yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn An N, mức cấp dưỡng hàng tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp vận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Tấn Q. Tuy nhiên, anh Q vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng. Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án không có quan điểm của anh Nguyễn Tấn Q về yêu cầu ly hôn của chị Lâm Thị Yến O cũng như quan điểm về việc nuôi con chung, giải quyết tài sản chung và nợ chung vợ chồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân thủ theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm về giải quyết vụ án: Xét thấy, chị O không còn tình cảm vợ chồng với anh Q. Mục đích hôn nhân không đạt được, chị O yêu cầu ly hôn nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho ly hôn.

Về con chung: Vì anh Q không có ý kiến gì về việc nuôi con, cháu Nguyễn An N còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, rất cần sự quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng từ người mẹ, hiện cháu N đang sống với chị O ổn định, chị O tự nguyện tiếp tục nuôi dưỡng cháu nên giao cháu Nguyễn An N cho chị O nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Căn cứ vào Điều 58, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện lập ngày 05/11/2023, Tòa án xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm Q: Bị đơn có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng trên địa bàn huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa anh Nguyễn Tấn Q mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Q đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, anh Q là trường hợp được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai. Do đó, căn cứ vào quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

[4] Về hôn nhân: Chị Lâm Thị Yến O và anh Nguyễn Tấn Q có thời gian tự tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng nhận kết hôn số: 37, ngày 25/3/2022. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, sau ngày cưới, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nhiều bất đồng, chị O và anh Q đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện chị O đã xác định không còn tình cảm yêu thương gì với anh Q nữa, chị nhất định yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị O và anh Q đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị O là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về con chung: Chị O và anh Q có 01 người con chung tên Nguyễn An N, sinh ngày 25/01/2023. Chị O có yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung. Tuy nhiên, cháu Nguyễn An N, sinh ngày 25/01/2023 dưới 36 tháng tuổi, rất cần sự quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng từ người mẹ và hiện cháu N đang sống với chị Giang ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nguyễn An N, sinh ngày 25/01/2023 cho chị O là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[6] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị O yêu cầu anh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hằng tháng theo mức 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, không có ý kiến của anh Q. Xét thấy, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con ở mức 3.000.000 đồng/tháng của chị O đối với trường hợp của cháu N là hoàn toàn phù hợp với mức chi phí trung bình, để cùng chăm lo cho mọi sinh hoạt của một đứa trẻ so với mặt bằng chung tại địa phương, phù hợp với quy định của pháp luật.

Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần buộc anh Nguyễn Tấn Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lâm thị Yến O mỗi tháng là 3.000.000 đồng, cấp dưỡng từ tháng 05/2024 cho đến khi cháu Nguyễn An N tròn 18 tuổi là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, với mặt bằng giá cả chung.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Chị O không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến trong bản án này.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị Yến O là người phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Tấn Q là người phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[9] Về áp dụng án lệ: Vụ án ly hôn giữa chị Lâm Thị Yến O và anh Nguyễn Tấn Q là vụ án Hôn nhân và gia đình. Theo đơn khởi kiện của chị O thì Tòa án xem xét giải quyết quan hệ ly hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Nghiên cứu tất cả án lệ do Tòa án nhân dân Tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ ngày thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Yến O.

  1. Về hôn nhân: Chị Lâm Thị Yến O ly hôn với anh Nguyễn Tấn Q
  2. Về con chung: Giao cho chị Lâm Thị Yến O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con chung có tên: Nguyễn An N, sinh ngày: 25/01/2023 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

    Anh Nguyễn Tấn Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh Q lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Lâm Thị Yến O có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Q.

    Chị Lâm Thị Yến O trực tiếp nuôi dưỡng con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Tấn Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Tấn Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo mức 3.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng từ tháng 05/2024 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
  4. Về án phí: Chị Lâm Thị Yến O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí do chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004103, ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị O đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Nguyễn Tấn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/4/2024 (đã giải thích); bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
  6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Cơ quan thi hành án cùng cấp;
  • - UBND xã Nam Chính;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HN&GĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 53/2024/HN&GĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger