|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-4-2024
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chính
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1974, có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Lê Văn V, sinh năm 1973, vắng mặt
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/01/2024, bà Lê Thị K trình bày:
Về hôn nhân: Bà K và ông V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/7/2004. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Do đó, bà K yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Thời gian chung sống ông bà có 03 người con chung là Lê Văn Huệ H, sinh năm 1997, Lê Huệ T, sinh năm 2004, đều đã trưởng thành và Lê Diệu T1, sinh ngày 09/01/2007, đang do ông V nuôi dạy. Khi ly hôn bà K thống nhất giao cho ông V tiếp tục nuôi dạy cháu T1, bà K không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Lê Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn V. Do ông bà chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông V có địa chỉ tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V nhưng ông V vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Bà K có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông V, bà K theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà Lê Thị K và ông Lê Văn V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/7/2004. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án bà K yêu cầu ly hôn với ông V. Xét thấy, yêu cầu của bà K là có cơ sở. Bởi vì, thời gian chung sống ông bà có phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng có tổ chức hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông V vắng mặt tại lần hòa giải không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà Lê Thị K và ông Lê Văn V được ly hôn.
[4] Về con chung: Thời gian chung sống ông bà có 03 người con chung là Lê Văn Huệ H, sinh năm 1997, Lê Huệ T, sinh năm 2004, đều đã trưởng thành và Lê Diệu T1, sinh ngày 09/01/2007, đang do ông V nuôi dạy. Khi ly hôn bà K thống nhất giao cho ông V tiếp tục nuôi dạy cháu T1. Xét thấy, ý kiến của bà K là có cơ sở. Bởi vì, cháu T1 đang do ông V nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Mặt khác, ông V cũng không có ý kiến gì về con chung. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu T1 cho ông V nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Bà K không cấp dưỡng nuôi con, ông V cũng không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà K không yêu cầu giải quyết về tài sản chung. Đối với nợ chung là không có, không ai yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị K phải chịu án phí theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị K và ông Lê Văn V được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Lê Diệu T1, sinh ngày 09/01/2007 (giới tính nữ) cho ông V tiếp tục nuôi dạy. Bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà K không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng bà có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 23 tháng 01 năm 2024 bà K có nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0015951 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà K, ông V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị K - Lê Văn V: Ly hôn
