Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 22/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Đăng Mạnh.

2. Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam, sinh năm 1973 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 5/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Trần Văn R, đã chết và con bà Ngô Thị T1, đã chết; Vợ: Hoàng Thị T2, sinh năm 1977. Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2003

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T, sinh năm 1973, trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, T đi xe đạp từ nhà đến nghĩa trang thuộc tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L, mục đích để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nghĩa trang, T mua của một người đàn ông là mặt 100.000 đồng ma túy được 01 gói giấy bạc, hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma tuý Heroin. Sau đó T cầm gói ma tuý ở tay trái rồi đi xe đạp về nhà. Hồi 12 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn M, xã T, huyện L thì bị Tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang, do hoảng sợ, T vứt gói ma tuý xuống rìa đường bên phải theo hướng đi của T. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ 01 gói giấy bạc, có hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Ma tuý” và 01 chiếc xe đạp màu xanh đã qua sử dụng. Cùng ngày Công an xã T đã bàn giao T cùng vật chứng, tài liệu cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 20/12/2023, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T ở thôn M, xã T, huyện L. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì; Tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma tuý của T, kết quả T dương tính với ma tuý Heroin; Tiến hành cho Trần Văn T thực nghiệm điều tra hành vi phạm tội của bản thân, kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của bị cáo và hiện trường vụ án.

Ngày 20/12/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với tang vật thu giữ nghi là ma tuý, được niêm phong trong bì thư ký hiệu “Ma tuý”. Tại Kết luận giám định số 2577 ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong phong bì có ký hiệu “Ma tuý” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc là ma tuý, có khối lượng 0,155 gam, loại Heroine; Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-LNg ngày 08 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị Trần văn T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T thừa nhận việc tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản

1 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 20/12/2023). Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ : 01 phong bì dán kín, bên trong chứa 0,129 gam ma túy, loại Heroine, được niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh B, hoàn lại sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 Chiếc xe đạp màu xanh cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo Trần Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Hồi 12 giờ 20 phút ngày 20/12/2023, tại đường liên xã T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trần Văn T, sinh năm 1973, trú quán: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi tàng trữ 0,155 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật”.

Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn T4: Bị cáo có nhân thân tốt.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm xói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ cần được chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[5] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo T4, T4 khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì dán kín, bên trong chứa 0,129 gam ma túy, loại Heroine, được niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh B, hoàn lại sau giám định là những chất cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe đạp màu xanh cũ đã qua sử dụng cần sung công quỹ nhà nước vì đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

[7] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 20/12/2023). Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ : 01 phong bì dán kín, bên trong chứa 0,129 gam ma túy, loại Heroine, được niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh B, hoàn lại sau giám định.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 Chiếc xe đạp màu xanh cũ đã qua sử dụng.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đặng Công Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T TTTP CMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger