Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2023

V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tua
  2. Bà Trần Thị Bé Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 282/2022/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2022 về “tranh chấp về ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 và Thông báo hoãn phiên tòa số: 156/2023/TB-TA ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị D, sinh năm 1980; nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1981; nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị D trình bày: Chị với bị đơn anh Trần Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng anh chị đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T; Chị và anh Trần Văn T có người 02 người con chung là cháu Trần Huy H, sinh ngày 27/8/2006 và cháu Trần Thị Thúy V, sinh ngày 09/10/2008 do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời chị yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt chị trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định nhưng bị đơn anh Trần Văn T đều vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất đều không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Áp dụng pháp luật về tố tụng:
    1. [1.1] Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn và yêu cầu nuôi con. Thời điểm nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn có địa chỉ tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
    2. [1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đối với nguyên đơn có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. [2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Vào ngày 21/9/2007, giữa nguyên đơn với bị đơn xác lập quan hệ hôn nhân (đăng ký kết hôn) nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và năm 2014 để giải quyết tranh chấp.
  3. [3] Về hôn nhân: Nguyên đơn chị Đinh Thị D với bị đơn anh Trần Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2007, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Thời điểm anh chị đăng ký kết hôn, thì anh chị đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng anh chị đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Trong suốt thời gian ly thân vợ chồng không gặp nhau để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Chị Đinh Thị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Văn T. Về phía bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, từ khi xảy ra mâu thuẫn cho đến nay là một thời gian dài, các bên không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị D là có căn cứ.
  4. [4] Về con chung: Giữa nguyên đơn chị Đinh Thị D và bị đơn anh Trần Văn T có người 02 con chung là cháu Trần Huy H, sinh ngày 27/8/2006 và cháu Trần Thị Thúy V, sinh ngày 09/10/2008. Con chung do chị Đinh Thị D đang trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị Đinh Thị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con và cũng phù hợp với nguyện vọng của các con. Về phía bị đơn anh Trần Văn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, chị Đinh Thị D đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Huy H và cháu Trần Thị Thúy V. Do đó, để ổn định về tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của cháu và cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên tiếp tục giao cháu Trần Huy H và cháu Trần Thị Thúy V cho chị Đinh Thị D nuôi dưỡng là có căn cứ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét giải quyết.

  1. [5] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có tài sản chung và nợ chung; về phía bị đơn vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không xem xét giải quyết.
  2. [6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
  3. [7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 227, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 11, 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 57, 81, 82, 83 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị D với anh Trần Văn T được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Trần Huy H, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2006 và cháu Trần Thị Thúy V, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2008 cho chị Đinh Thị D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003098, ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.

Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Vị Thủy;
  • - UBND xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy;
  • - Cổng TTĐTTANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Quyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 53/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger