TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Hiến; Ông Nguyễn Văn Tiến;
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đức H (Tên gọi khác: Không);
Sinh ngày 26 tháng 9 năm 1999;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: Công nhân, Trình độ văn hoá: 12/12;
Con ông Vũ Văn H1 và bà Trần Thị Minh N. Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Có vợ là Lưu Thị P, sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh hiện đang tại ngoại tại địa phương và có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1975 (Có mặt);
Trú tại: Tổ dân phố B, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; - Bà Trần Thị Minh N, sinh năm 1981 (Có mặt)
Trú tại: Tổ dân phố B, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
1
- Người làm chứng:
- Anh Bùi Văn H2, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ dân phố S, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. - Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1982; (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ dân phố S, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 28/12/2023, tổ công tác của Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường T, thành phố S tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường T, thành phố S, đến 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi tổ công tác tuần tra trên đường T đến đoạn đường trước cổng Công ty M thuộc tổ A, phường M, thành phố S thì phát hiện Vũ Đức H đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE, gắn BKS 20B2 - 222.62 có biểu hiện vi phạm pháp luật, tổ công tác đã tiến hành truy đuổi, H liền điều khiển xe môtô đi về nhà riêng ở Tổ dân phố B, phường T, thành phố S. Tổ công tác đến nhà H và tiến hành làm việc. Tại đây, H khai nhận trước đó đã có hành vi mua 05 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả/giàn với tổng số tiền là 5.000.000đ, sau đó H đã bán cho anh Bùi Văn H2, sinh năm 1990, trú quán tổ dân phố S, phường C, thành phố S 02 giàn pháo với giá 2.200.000đ, hưởng lợi 100.000đ/giàn, đồng thời tự giác giao nộp 03 giàn pháo hoa nổ có cùng kích thước (16,5 x 16,5 x10) cm, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc có ghi chữ nước ngoài, nghi là pháo hoa nổ.
Căn cứ lời khai của H, tổ công tác đã đến nhà của anh Bùi Văn H2 (sinh năm 1990, trú tại: tổ dân phố S, phường B, thành phố S), qua làm việc H2 khai nhận mua 02 giàn pháo của H, sau đó H2 đã bán cho anh Bùi Văn Đ (sinh năm 1982, trú tại: tổ dân phố S, phường C, thành phố S) với giá 1.200.000đ/01 giàn, hưởng lợi 200.000đ. Đến hồi 22h cùng ngày, anh Bùi Văn Đ tự giác giao nộp 02 khối hình hộp, có cùng kích thước (16,5 x 16,5 x10) cm, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc có ghi chữ nước ngoài, nghi là pháo hoa nổ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong số vật chứng liên quan. Ngoài ra, còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã mở niêm phong cân xác định khối lượng pháo thu giữ của Vũ Đức H và Bùi Văn Đ giao nộp, kết quả:
- - 03 khối hộp (lấy từ thùng cattong ký hiệu H1 - thu giữ của H) đều có kích thước 16,6 x 16,5 x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có ghi nhiều chữ nước ngoài có khối lượng là 4,8kg.
- - 02 khối hộp (lấy từ thùng cattong ký hiệu Đ1 - thu giữ của Đảng) cùng có kích thước 16,6 x 16,5 x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có ghi nhiều chữ nước ngoài có khối lượng là 3,2kg.
2
Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 160/KL- KTHS ngày 08/01/2024 của phòng K công an tỉnh T, kết luận:
- 03 (ba) vật hình khối hộp, có cùng đặc điểm kích thước (16,5 x 16,5 x10) cm, bên ngoài vỏ hộp được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, dài 10cm, ký hiệu A1 là pháo nổ (pháo hoa nổ).
- 02 (hai) vật hình khối hộp, có cùng đặc điểm kích thước (16,5 x 16,5 x10) cm, bên ngoài vỏ hộp được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, dài 10cm, ký hiệu A2 là pháo nổ (pháo hoa nổ).
Quá trình điều tra Vũ Đức H khai nhận như sau: Do thấy vào dịp tết Nguyên đán có nhiều người có nhu cầu đốt pháo, nên H nảy sinh ý định mua pháo về bán kiếm lời. Thông qua mạng xã hội Facebook, Vũ Đức H liên hệ với một người nam thanh niên bán pháo nổ và được cho số điện thoại 0568.672.xxx để liên lạc. Đến chiều ngày 28/9/2023, H sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim số 0348.643.331 liên lạc với nam thanh niên qua số điện thoại 0568.672.xxx để đặt mua pháo và trao đổi thống nhất giá mỗi giàn pháo có giá 1.000.000đ/giàn, loại 49 quả/giàn và H đã đặt mua 05 giàn pháo với tổng số tiền là 5.000.000đ, hẹn khoảng 21h ngày 28/12/2023 mang đến cổng Công ty M có địa chỉ tại tổ A, phường M, thành phố S để H nhận. Sau đó H sử dụng số điện thoại 0348.643.xxx liên lạc với Bùi Văn H2 qua số điện thoại 0968.920.xxx trao đổi bán pháo cho H2 với giá 1.100.000đ/giàn, H2 đồng ý mua của H 02 giàn với giá tiền là 2.200.000đ. Đến khoảng 17 giờ, tại cổng trường P1, H2 đưa trước cho H 2.000.000đ, số còn lại khi nào nhận được pháo sẽ đưa nốt.
Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, nam thanh niên mang 05 giàn pháo đến và gọi điện thoại cho H, H liền lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE, gắn BKS 20B2 - 222.62 của ông Vũ Văn H1 (là bố đẻ H) đi đến chỗ hẹn, tại đây H đưa cho người này số tiền là 5.000.000đ và nhận 05 giàn pháo. Sau đó, H mang về nhà cất giấu tại nhà kho để củi, rồi liên lạc với Bùi Văn H2 và bán cho H2 02 giàn pháo với giá 2.200.000đ, ngay sau khi bán xong cho H2 thì gặp tổ công tác Công an tỉnh T đang đi tuần tra, do lo sợ bị phát hiện, H tăng ga bỏ chạy về nhà và sau đó bị phát hiện, thu giữ số vật chứng và tài sản có liên quan như đã nêu trên.
Đối với Bùi Văn H2, sau khi mua được pháo nổ của H, H2 mang đi bán lại cho Bùi Văn Đ với giá 1.200.000đ/hộp, thu lời 200.000đ.
Quá trình điều tra Vũ Đức H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S được bảo quản theo đúng quy định quản lý vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố S.
3
Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 160/KL- KTHS ngày 08/01/2024 của phòng K công an tỉnh T, kết luận:
- 03 (ba) vật hình khối hộp, có cùng đặc điểm kích thước (16,5 x 16,5 x10) cm, bên ngoài vỏ hộp được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, dài 10cm, ký hiệu A1 là pháo nổ (pháo hoa nổ).
- 02 (hai) vật hình khối hộp, có cùng đặc điểm kích thước (16,5 x 16,5 x10) cm, bên ngoài vỏ hộp được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) ống giấy hình trụ, đường kính 2,4cm, dài 10cm, ký hiệu A2 là pháo nổ (pháo hoa nổ).
Quá trình điều tra Vũ Đức H khai nhận như sau: Do thấy vào dịp tết Nguyên đán có nhiều người có nhu cầu đốt pháo, nên H nảy sinh ý định mua pháo về bán kiếm lời. Thông qua mạng xã hội Facebook, Vũ Đức H liên hệ với một người nam thanh niên bán pháo nổ và được cho số điện thoại 0568.672.xxx để liên lạc. Đến chiều ngày 28/9/2023, H sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim số 0348.643.331 liên lạc với nam thanh niên qua số điện thoại 0568.672.xxx để đặt mua pháo và trao đổi thống nhất giá mỗi giàn pháo có giá 1.000.000đ/giàn, loại 49 quả/giàn và H đã đặt mua 05 giàn pháo với tổng số tiền là 5.000.000đ, hẹn khoảng 21h ngày 28/12/2023 mang đến cổng Công ty M có địa chỉ tại tổ A, phường M, thành phố S để H nhận. Sau đó H sử dụng số điện thoại 0348.643.xxx liên lạc với Bùi Văn H2 qua số điện thoại 0968.920.xxx trao đổi bán pháo cho H2 với giá 1.100.000đ/giàn, H2 đồng ý mua của H 02 giàn với giá tiền là 2.200.000đ. Đến khoảng 17 giờ, tại cổng trường P1, H2 đưa trước cho H 2.000.000đ, số còn lại khi nào nhận được pháo sẽ đưa nốt.
Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, nam thanh niên mang 05 giàn pháo đến và gọi điện thoại cho H, H liền lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE, gắn BKS 20B2 - 222.62 của ông Vũ Văn H1 (là bố đẻ H) đi đến chỗ hẹn, tại đây H đưa cho người này số tiền là 5.000.000đ và nhận 05 giàn pháo. Sau đó, H mang về nhà cất giấu tại nhà kho để củi, rồi liên lạc với Bùi Văn H2 và bán cho H2 02 giàn pháo với giá 2.200.000đ, ngay sau khi bán xong cho H2 thì gặp tổ công tác Công an tỉnh T đang đi tuần tra, do lo sợ bị phát hiện, H tăng ga bỏ chạy về nhà và sau đó bị phát hiện, thu giữ số vật chứng và tài sản có liên quan như đã nêu trên.
Đối với Bùi Văn H2, sau khi mua được pháo nổ của H, H2 mang đi bán lại cho Bùi Văn Đ với giá 1.200.000đ/hộp, thu lời 200.000đ.
Quá trình điều tra Vũ Đức H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S được bảo quản theo đúng quy định quản lý vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố S.
3
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Đức H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên cáo trạng đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đức H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Truy thu buộc bị cáo nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đ (Hai triệu đồng)
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định.
Trong phần tranh tụng, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[2]. Về căn cứ buộc tội:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Đức H khai nhận: Chiều ngày 28/12/2023, bị cáo liên hệ với anh H2 hỏi có mua pháo hoa Trung Quốc loại mỗi hộp 49 quả không, bị cáo báo giá 1.100.000đồng/ hộp thì anh H2 đồng ý mua hai hộp. Khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo hẹn anh H2 ở cổng Trường trung học phổ thông P1, anh H2 đưa cho bị cáo 2.000.000đ (Hai triệu đồng) và bảo khi nào nhận được pháo sẽ thanh toán nốt 200.000đ. Khoảng 21 giờ 05 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô Air Blade, BKS 20B2-222.62 (là xe của mẹ bị cáo) đi từ nhà đến khu vực Tổ dân phố B, phường T, thành phố S (trước cổng Công ty M) để giao dịch mua bán pháo với Bùi Văn H2. Khi đi bị cáo có mang theo 02 hộp pháo, loại pháo hoa dàn, mỗi hộp có 49 quả đựng trong túi nilon màu đen và treo ở phía trước xe. Khi gặp H2, bị cáo đưa cho H2 túi nilon đựng 02 hộp pháo. Sau khi giao dịch xong, bị cáo thấy tổ công tác của lực lượng Công an tuần tra kiểm soát nên bị cáo điều khiển xe máy bỏ chạy về nhà. Quá trình làm việc, bị cáo đã giao nộp 03 hộp pháo, loại pháo hoa dàn, mỗi hộp có 49 quả và khai nhận toàn bộ hành vi buôn bán pháo, số pháo bị cáo tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời. Về nguồn gốc số pháo trên bị cáo giao dịch mua của người đàn ông không quen biết.
Lời khai của ông Vũ Văn H1 tại phiên toà: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS 20B2-222.62 đăng ký xe mang tên tôi là Vũ Văn H1 nhưng chiếc xe này do vợ tôi là Trần Thị Minh N quản lý, sử dụng. Tối ngày 28/12/2023, tôi đi làm Công ty nên không biết việc Vũ Đức H là con trai tôi lấy xe sử dụng để đi mua bán pháo. Tôi xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của vợ tôi nên tôi không có yêu cầu, đề nghị gì.
Lời khai của bà Trần Thị Minh N tại phiên toà: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS 20B2-222.62 là của tôi mua năm 2019 nhưng tôi nhờ chồng tôi là Vũ Văn H1 đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký xe. Tôi xác định chiếc xe mô tô trên do tôi sở hữu, quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Tối ngày 28/12/2023, con trai tôi là Vũ Đức H lấy chiếc xe trên để sử dụng đi mua bán pháo vợ chồng tôi không biết, H cũng không xin phép tôi để sử dụng chiếc xe này. Quá trình điều tra tôi đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô trên nên tôi không có yêu cầu, không đề nghị gì.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 28/12/2023, tại khu vực cổng Công ty M thuộc Tổ A, phường M, thành phố S, Thái Nguyên, Vũ Đức H có hành vi mua 05 hộp pháo nổ, có khối lượng 08kg, mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an tỉnh T, thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:
Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- ...
- Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
5
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực nhà nước cấm buôn bán, sản xuất, pháo khi đốt có thể gây tai nạn thương tích hoặc dẫn đến chết người, ảnh hưởng đến trật tự an ninh, ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống, đến trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên nhà nước cấm buôn bán.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra trong quá trình nghị án HĐXX xem xét tình tiết bị cáo được Ủy ban nhân dân phường C tặng giấy khen do có thành tích tiêu biểu gương người tốt, việc tốt, bị cáo sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng) thu lời bất chính, nên đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Xét nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo được địa phương xác nhận bản thân luôn tích cực tham gia hoạt động văn hoá, văn nghệ và an sinh xã hội tại địa phương nên đây là tình tiết nhân thân cần xem xét khi lượng hình.
[7]. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy ngoài lần phạm tội này bị cáo có nhân thân tốt, tham gia tích cực các hoạt động xã hội tại địa phương, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử phạt tù từ 12 tháng đến 15 tháng và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng và răn đe, phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính cần áp dụng khoản 4 Điều 190 BLHS phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đ đến 25.000.000 đ nộp ngân sách nhà nước.
[9]. Vật chứng và đồ vật liên quan: 02 điện thoại di động (trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12promax và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s) bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán pháo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 2.000.000 bị cáo bán pháo cho Bùi Văn H2, đây là số tiền thu lời bất chính cần truy thu và buộc bị cáo nộp vào ngân sách nhà nước.
[10]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[11]. Liên quan trong vụ án:
6
- Quá trình điều tra, H khai mua pháo nổ của nam thanh niên ở cổng Công ty M thuộc địa phận phường M, phố S, tỉnh Thái Nguyên nhưng H không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ và lai lịch của người đó nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.
- Xác minh số điện thoại 0568.672.xxx, theo bị cáo H khai giao dịch mua bán pháo ngày 28/12/2023, số thuê bao trên đăng ký là tên Nguyễn Văn T, (sinh năm 1994, trú tại: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc), T không sử dụng số điện thoại trên và không có hành vi bán pháo cho H nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý với T là phù hợp.
- Đối với hành vi mua bán 3,2kg pháo nổ của Bùi Văn H2 và hành vi tàng trữ 3,2kg pháo nổ của Bùi Văn Đ, hành vi mua bán và tàng trữ dưới mức tối thiểu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 và Điều 191 BLHS, bên cạnh đó, Bùi Văn H2 và Bùi Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự nên cơ quan Điều tra Công an thành phố S đề nghị Chủ tịch UBND thành phố S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, 136, 299, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- */ Tuyên bố bị cáo Vũ Đức H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- */ Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức H 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Đức H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Vũ Đức H 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Vật chứng: Tịch thu sung công: 02 điện thoại di động (trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12promax đã qua sử dụng trong bì niêm phong ký hiệu B1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s đã qua sử dụng trong bì niêm phong ký hiệu B2).
Truy thu và buộc bị cáo nộp vào ngân sách nhà nước 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) số tiền bị cáo bán pháp do thu lời bất chính.
7
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/5/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
- */ Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Đức H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
- */ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Hài |
8
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: */ Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Đức H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước. */ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
