Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/DS-ST

Ngày: 21-6-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

dân sự về góp hụi

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mai Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
  2. Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-DS ngày 17/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2024/QĐST-DS ngày 03/5/2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 10/2024/QĐST-DS ngày 24/5/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Sơn Thị H, sinh năm 1975 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Chị Thạch T H1, sinh năm 1963 (Vắng mặt);

Anh Thạch S, sinh năm 1968 (Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/8/2023 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Sơn Thị H trình bày và yêu cầu:

Chị có tổ chức mở dây hụi khui ngày 21/3/2020 (dl) do chị làm đầu thảo hụi. Hình thức tham gia góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 5.000.000 đồng có 15 phần, kỳ mở hụi đầu tiên vào ngày 21/3/2020 (dl) sau đó 01 tháng khui 02 lần, hình thức lĩnh hụi là thành viên trong dây hụi bỏ thăm cao nhất thì hốt, việc góp hụi là sau khi đã mở hụi thì đầu thảo đi gom tiền của hụi viên sau đó giao tiền tại nhà hụi viên được lĩnh hụi. Mỗi người lĩnh hụi thỏa thuận trả cho đầu thảo hưởng huê hồng số tiền 1.500.000 đồng/lần hốt. Chị Thạch T H1 và anh Thạch S tham gia tổng cộng 09 dây hụi ở các dây số 1 (tham gia 02 phần) các dây số 2, 3, 5, 6,13, 14, 17, 20, 21 mỗi dây tham gia 01 phần, lấy tên trong danh sách hụi là “H1 S”. Các dây hụi này chị H và anh S đã có kêu hốt hụi, cụ thể như sau:

Dây số 2: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 1 kêu số tiền 1.500.000 đồng nên hốt được 47.500.000 đồng và hốt ở lần khui thứ 4, kêu số tiền 3.200.000 đồng hốt được số tiền 33.300.000 đồng.

Dây số 3: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 2 kêu số tiền 3.170.000 đồng nên hốt được 27.290.000 đồng

Dây số 5: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 3 kêu số tiền 3.290.000 đồng nên hốt được 29.020.000 đồng

Dây số 6: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 2 kêu số tiền 3.270.000 đồng nên hốt được 25.990.000 đồng

Dây số 13: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 4 kêu số tiền 3.280.000 đồng nên hốt được 32.420.000 đồng

Dây số 14: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 3 kêu số tiền 3.160.000 đồng nên hốt được 30.580.000 đồng

Dây số 17: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 2 kêu số tiền 3.060.000 đồng nên hốt được 28.720.000 đồng

Dây số 20: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 2 kêu số tiền 3.060.000 đồng nên hốt được 28.720.000 đồng

Dây số 21: chị H1 anh S hốt hụi ở các lần khui thứ 3 kêu số tiền 3.190.000 đồng nên hốt được 30.220.000 đồng

Các dây hụi này chị H tổ chức khui đến lần khui thứ 4, đến lần khui thứ 5 do các hụi viên không đến khui hụi nữa nên đầu thảo tuyên bố úp hụi, với 09 dây hụi nêu trên 11 hụi viên còn sống đã đóng cho chị Thạch T H1 và anh Thạch S số tiền 218.000.000 đồng. Sau khi úp hụi đầu thảo đã hoàn trả tiền hụi vốn cho các hụi viên còn sống trong các dây này nên chị yêu cầu chị Thạch T H1 và anh Thạch S phải hoàn trả số tiền 218.000.000 đồng.

Đối với bị đơn chị Thạch T H1 và anh Thạch S sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ 2 nhưng chị H1 và anh S không đến Tòa án tham gia tố tụng. Do đó Tòa án lập biên bản vắng mặt bị đơn và biên bản không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Sơn Thị H có mặt, đối với bị đơn chị Thạch T H1 và anh Thạch S vắng mặt đến lần thứ 2 không rõ lý do.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại phiên tòa cho rằng việc thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” là đúng quan hệ tranh chấp. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đảm bảo đúng quy định. Về đưa người tham gia tố tụng, Tòa án đã đưa đầy đủ trong hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nên việc xét xử đúng pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, riêng bị đơn vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ hai. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị H, buộc chị Thạch T H1 và anh Thạch S phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị Sơn Thị H số tiền hụi sống ở các dây hụi trên là 218.020.000 đồng. Chị H không yêu cầu tính lãi hụi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc chị H và anh S phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch T H1 khởi kiện chị Thạch T H1 và anh Thạch S phải hoàn trả tiền hụi vốn mà các hụi viên hụi sống đã đóng, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Bị đơn cư trú tại Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về đưa người tham gia tố tụng và hòa giải: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn Tòa án đã đưa chị Thạch T H1, anh Thạch S vào tham gia tố tụng với tư cách bị đơn trong vụ án. Chị H anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Sơn Thị H có mặt, đối với bị đơn chị Thạch T H1 và anh Thạch S vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung: Chị Sơn Thị H yêu cầu chị H1, anh S phải trả tổng số tiền hụi vốn mà các hụi viên đã đóng hụi sống ở các dây số 1, 2, 3, 5, 6,13, 14, 17, 20, 21 khui cùng ngày 21/3/2020 (dl) loại hụi 5.000.000 đồng do chị Sơn Thị H tổ chức làm đầu thảo hụi. Đối với chị Thạch T H1 và anh Thạch S sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện T đã sao gửi đơn khởi kiện cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ có liên quan đến các dây hụi chị Sơn Thị H khởi kiện để chị H1, anh S có ý kiến trình bày hoặc phản bác lại yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị H cũng như các tài liệu chứng cứ mà chị Sơn Thị H đã giao nộp nhưng chị H1 và anh S không có ý kiến trình bày, do đó Tòa án nhân dân huyện T căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu chứng do Tòa án thu thập được là các văn bản trình bày ý kiến của các hụi viên có tham gia góp các dây hụi ngày 21/3/2020 (dl) loại hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui 02 lần do chị Sơn Thị H tổ chức làm đầu thảo hụi. Các hụi viên xác nhận chị Thạch T H1 có tham gia góp các dây hụi mà chị Sơn Thị H khởi kiện, chị H có tổ chức khui từ lần thứ 1 đến lần khui thứ 4, do hụi viên không đến khui hụi nên đầu thảo úp hụi ở lần khui thứ 5 (thể hiện ở các bút lục số 46-75), sau khi úp hụi chị Sơn Thị H đã có tính toán và hoàn trả 11 lần hụi sống cho các hụi viên còn sống trong các dây hụi này, do đó các hụi viên xác nhận không có tranh chấp với đầu thảo trong các dây này. Ngoài ra, tại các biên bản làm việc của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Trà Vinh (thể hiện ở các bút lục số 100 - 106, 107-110) đối chiếu hụi giữa chị Sơn Thị H và chị Thạch T H1, thể hiện chị H1 thừa nhận có tham gia 25 dây hụi, loại hụi 5.000.000 đồng do chị Sơn Thị H tổ chức khui và đã có hốt 12 dây và khi bể hụi còn nợ lại 11 lần hụi sống như chị Sơn Thị H trình bày. Chị H thừa nhận đã có hốt hụi trong các dây này phải có nghĩa vụ đóng hụi chết đầy đủ cho đầu thảo cho đến khi mãn hụi, nhưng do các dây này hụi úp ở lần khui thứ 5 không có khui nữa, đầu thảo chị H đã hoàn trả số tiền hụi sống cho 11 hụi viên còn lại nên chị Thạch T H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hụi sống đã nhận của 11 hụi viên còn sống cho chị Sơn Thị H.

[5] Đối với bị đơn anh Thạch S mặc dù không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng Tòa án cũng đã có sao gửi toàn bộ chứng cứ để anh có ý kiến hoặc phản hồi đối với yêu cầu của chị Sơn Thị H nhưng anh không có ý kiến. Chị H và anh S là vợ chồng, việc chị H chơi hụi có tiền huê hồng là nhằm để chăm lo cho cuộc sống gia đình. Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có cơ sở buộc chị H và anh S phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho chị Sơn Thị H số tiền hụi sống nêu trên.

[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị H, buộc chị Thạch T H1 và anh Thạch S phải trả số tiền hụi sống đã đóng là 218.020.000 đồng cho chị Sơn Thị H. Chị H không yêu cầu tính lãi hụi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Xét thấy quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận toàn bộ.

[8] Về án phí: Buộc chị Thạch T H1 và anh Thạch S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Chị Sơn Thị H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 468 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị H.
  2. Buộc chị Thạch T H1 và anh Thạch S phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho chị Sơn Thị H số tiền hụi sống là 218.020.000 đồng (trong dây hụi khui ngày 21/3/2020 (dl) loại hụi 5.000.000 đồng có 15 phần ở dây số 1, 2, 3, 5, 6,13, 14, 17, 20, 21 do chị Sơn Thị H làm đầu thảo hụi).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  3. Về án phí: Buộc chị Thạch T H1, anh Thạch S phải chịu số tiền 10.901.000 đồng.

    Hoàn trả cho chị Thạch Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.450.000 đồng (Năm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019890 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi

  • Số bản án: 53/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khở kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger