Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 12 - 2025

V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thu Trang
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thẩm Văn Minh
  • 2. Ông Nguyễn Đức Thiệu
  • - Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tiến Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 16/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2025/TLST- HNGĐ ngày 14/10/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/11/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh T, sinh năm 2005; địa chỉ: Khu P, xã P, tỉnh Phú Thọ.
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu P, xã P, tỉnh Phú Thọ.

(Chị T, anh H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Nguyễn Minh T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 07/07/2023 tại trụ sở UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã P, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống với nhau tại gia đình nhà chồng ở khu P, xã P, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn, được khoảng sáu tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, anh H không quan tâm đến vợ con, các bên không chia sẻ được với nhau về các vấn đề trong cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Chị và anh H đã sống ly thân từ tháng 6/2025 cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Phía anh Nguyễn Văn H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nhưng trong lời khai thể hiện quan điểm của mình như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, quá trình chung sống anh khẳng định như chị T trình bày là đúng. Nhưng anh cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị T là những mâu thuẫn nhỏ do những bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng không thể thống nhất tiếng nói chung được. Anh xác định vợ chồng anh đã sống ly thân từ tháng 9/2025 cho đến nay. Tuy nhiên, chị T xin ly hôn thì anh vẫn mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung.

Về con chung: Chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H xác định vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 27/10/2021. Hiện tại cháu T1 đang ở cùng với chị T. Nếu ly hôn chị T và anh H đều thống nhất giao cháu T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T vì chị T tự nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H đều thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện, chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271, khoản 1 và khoản 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Minh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H. Bị đơn là anh Nguyễn Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu P, xã P, tỉnh Phú Thọ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H nhưng chị T và anh H có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh H là phù hợp.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 07/7/2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã P, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ, phù hợp với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn, được khoảng sáu tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị T và anh H cư trú xác định: Sau khi kết hôn hai vợ chồng chị T và anh H về chung sống với gia đình anh H tại khu P, xã P, tỉnh Phú Thọ. Trong cuộc sống vợ chồng của chị T và anh H phát sinh những mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Hiện nay chị T và anh H đã sống ly thân, Anh H vẫn sinh sống tại khu Phú C còn chị T đã đưa cháu T1 về nhà mẹ đẻ sinh sống, không còn quan tâm đến nhau nữa. Bản thân phía các bên đương sự cũng đều xác định vợ chồng có những mâu thuẫn và hai vợ chồng đã ly thân. Phía bị đơn là anh H mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bản thân anh cũng không có biện pháp nào để hàn gắn, tình cảm, quan hệ gia đình với chị T. Xét thấy cuộc sống chung giữa chị T và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Nguyễn Minh T đề nghị ly hôn với anh Nguyễn Văn H là có căn cứ. Do vậy, cần xử cho chị Nguyễn Minh T ly hôn với anh Nguyễn Văn H là phù hợp.

Về con chung: Chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H xác định vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 27/10/2021. Hiện tại cháu T1 đang ở cùng với chị T. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án phía anh H cũng thể hiện quan điểm hiện nay cháu còn nhỏ nên nếu ly hôn anh H cũng nhất trí giao cháu T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc giáo dục. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 27/10/2021 cho chị Nguyễn Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T vì chị T tự nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình: chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Minh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271, khoản 1 và khoản 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Minh T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Minh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 27/10/2021 cho chị Nguyễn Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Minh T vì chị T tự nguyện không yêu cầu.

    Không ai được cản trở quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Minh T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003494 ngày 14/10/2025 tại thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Minh T và anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - Phòng THA dân sự khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Phú Khê, tỉnh Phú Thọ;
  • (ĐKKH ngày 07/7/2023)
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn với anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger