Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-PT

Ngày 08-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hồng Giang

Bà Vũ Thị Bích Diệp

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên

tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 41/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 03 năm 2025 do có kháng cáo của bị hại Bùi Thị N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo không kháng cáo:

Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: C), sinh năm 1971 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Chu Thị T2, có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 29/11/2023, Công an quận H, thành phố Hải Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 144/QĐ-XPVPHC về hành vi Cố ý gây thương tích (nộp phạt ngày 18/10/2024) chưa được xoá; nhân thân: Bản án số 27/ST ngày 30/10/2003, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tù tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 106/ST ngày 28/07/2005, Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 41/ST ngày 30/06/2011, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; cả 03 tiền án đều đã được xoá án tích; bị tạm giữ ngày 18/10/2024, tạm giam ngày 21/10/2024, có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1966; Nơi ở: Số G, Lô A, T,

phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/12/2023, Công an phường Đ nhận được đơn trình báo của bà Bùi Thị N về việc bà N bị Nguyễn Văn T (C) dùng kiếm chém gây thương tích tại quán bán hàng ăn của bà N ở số A K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng và đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T về hành vi gây thương tích cho bà. Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 01/12/2023, bị cáo Nguyễn Văn T có đến quán bán hàng ăn của bà Bùi Thị N tại số A K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Trong quán ăn lúc này có anh Bùi Tiến T3, là khách hàng đang ngồi ăn tại quán. Do nghi ngờ có người chửi mình khi đi qua quán bán hàng ăn của bà Bùi Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T vào quán và xảy ra mâu thuẫn với bà N. Thấy vậy, ông Nguyễn Văn P1 (là chồng bà N và là anh trai của bị cáo Nguyễn Văn T) đi ra đẩy bị cáo T về nhà nhưng bị cáo T không về mà vẫn đứng chửi. Lúc này, bị cáo T đi về nhà rồi quay lại quán bán hàng ăn của bà N1, tay bị cáo T cầm theo 01 cây kiếm kim loại sáng màu dài khoảng 80cm, chửi bà N. Ông P1 can ngăn bị cáo Tân ra nhưng bị cáo T vẫn lời qua tiếng lại với bà N rồi bị cáo T cầm kiếm đuổi chém bà N, bà N bỏ chạy vào trong quán rồi quay lại ở tư thế đối diện với bị cáo T đang đứng, bị cáo T cầm kiếm chém về phía bà N, bà N lấy cây gậy tre ở bên trong quán đỡ nên kiếm chém trượt vào vùng bả vai bên trái bà N. Hậu quả bà N bị 01 thương tích rách nhỏ dài khoảng 05cm ở vai, và 01 vết bầm tím dài khoảng 05cm ở bắp tay trái gần vai, ông P1 và anh T3 chạy vào can ngăn tước cây kiếm của bị cáo T. Sau đó, bị cáo T đi ra khỏi quán rồi quay lại gặp bà N xin lỗi vì uống rượu say, bà N đuổi bị cáo T về thì bị cáo T vào quán bán hàng lấy con dao thái thịt đang để trên bàn bán hàng xông về phía bà N nhưng ông P1 giằng được con dao và can ngăn không cho bị cáo T tiếp tục chém bà N. Sau đó, bà N đến Công an phường Đ để trình báo còn bị cáo T ngồi uống nước tại quán nước gần chùa K rồi đi về nhà.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 933/2023/KLTTCT - TTPYHP ngày 25/12/2023 của Trung tâm P2, kết luận:

  1. Các kết quả chính: 02 vết xây xước trượt da mặt trước 1/3 trên trong cánh tay trái để lại 02 vết biến đổi da kích thước nhỏ, không tổn thương xương cánh tay trái, không tổn thương thần kinh; vết bầm tím mặt trước 1/3 trên trong cánh tay trái đã khỏi.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Thị N tại thời điểm giám định là: 01%, áp dụng áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó:

    Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 02 vết xây xước trợt da mặt trước 1/3 trên cánh tay trái để lại 02 vết biến đổi da gây nên là 0,5% và 0,5%.

    Vết bầm tím mặt trước 1/3 trên trong cánh tay trái đã khỏi, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày có góc cạnh cứng, vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên.

Về vật chứng: 01 thanh kim loại sáng màu hình trụ tròn, dài 56 cm rỗng ruột, bị méo 2 đầu, đường kính 1,5 cm (đã qua sử dụng); 01 gậy tre dài 180 cm, đường kính 4 cm (đã qua sử dụng); 01 dao dài 28,5 cm cán gỗ dài 12cm (đã qua sử dụng).

Về dân sự: Quá trình điều tra bà Bùi Thị N yêu cầu bị cáo T bồi thường 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) là số tiền tổn thất của quán do không bán được hàng. Hiện bị cáo T chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 20/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T4) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/10/2024.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên: Về trách nhiệm dân sự, tuyên buộc bị cáo phải bồi thường về tổn thất tinh thần cho bà Bùi Thị N số tiền 12.150.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, do đó bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 2.150.000 đồng; tuyên tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tuyên xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và dân sự bồi thường đối với bị cáo; án phí dân sự sơ thẩm mà bị hại phải chịu đối với phần không được Toà án chấp nhận; quyền kháng cáo bản án đối với các bị cáo, bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với vị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường tiền mất thu nhập kinh doanh.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Xét kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường do mất thu nhập kinh doanh, nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án 08 tháng tù là phù hợp, cụ thể: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, từng có 03 tiền án về các tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma túy đều đã được xóa án tích và có 01 tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích chưa được xoá. Quá trình điều tra, bị cáo không thừa nhận dùng kiếm gây thương tích cho bị hại nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Thương tích mà bị cáo gây ra cho bị hại làm thiệt hại 01% sức khoẻ, bị hại không đi bệnh viện khám, chữa trị; tài liệu xác minh của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng thể hiện sau khi bị thương tích bị hại vẫn mở quán bán hàng và vẫn có thu nhập hằng ngày, bản thân bị hại cũng không có tài liệu nào chứng mình về những chi phí cho việc cứu chữa.... thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của bị hại. Căn cứ theo Điều 590 Bộ luật Dân sự thì bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại để bù đắp tổn thất về tinh thần mà bị cáo đã gây ra không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, vì thương tích của bị hại không đáng kể nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận mức bồi thường bị cáo phải chịu là 05 tháng x 2.430.000 đồng/tháng = 12.150.000 đồng là phù hợp với pháp luật.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại kháng cáo đề nghị tăng nặng mức hình phạt đối với bị cáo nhưng không có căn cứ chứng minh, bị hại cũng không xuất trình được tài liệu nào khác làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì vậy kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo và buộc bị cáo bồi thường tổn thất của quán do mất thu nhập kinh doanh là không có cơ sở, không được chấp nhận. Do đó, cần bác kháng cáo của bị hại, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận nên người bị hại phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại có đơn kháng cáo. Kháng cáo bị hại trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn xét xử sơ thẩm; phù hợp với vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 01 tháng 12 năm 2023, bị cáo đã dùng hung khí là 01 thanh kiếm dài khoảng 80cm chém vào cánh tay trái của bà Bùi Thị N, gây tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bị hại là 01%. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 08 (T4) tháng tù là phù hợp với pháp luật.

- Xét kháng cáo của bị hại:

[3] Về kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là từ 06 tháng đến 03 năm tù. Mặc dù nhân thân bị cáo Nguyễn Văn T là xấu vì có 03 tiền án về các tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng cả 03 tiền án này đều đã được xóa án tích, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích chưa được xoá. Xét lần phạm tội này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi thực hiện hành vi chém bị hại, bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo và đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, bị cáo được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Với tỷ lệ tương tật của bị hại là 01% cũng như xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T4) tháng tù là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

[4] Về kháng cáo đòi tiền bồi thường mất thu nhập kinh doanh là 400.000.000 đồng, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

[4.1] Tài liệu tại hồ sơ thể hiện: Sau khi bị thương tích 01%, bị hại không đi bệnh viện khám, chữa trị thương tích. Tài liệu xác minh của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng thể hiện: Sau khi bị thương tích 01%, bị hại vẫn mở quán bán hàng và vẫn có thu nhập hằng ngày, bản thân bị hại cũng không có tài liệu nào chứng mình về những chi phí cho việc cứu chữa... thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

[4.2] Tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “……… mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Do thương tích của bị hại không đáng kể, là 01% nên Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại Bùi Thị N 05 tháng x 2.430.000 đồng/tháng = 12.150.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.

[4.3] Tại giai đoạn sơ thẩm, bản thân bị hại Bùi Thị N không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc chi phí cho việc cứu chữa, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của bị hại. Bản án sơ thẩm đã nhận định việc bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 400.000.000 đồng về tổn thất của quán do không bán được hàng là không có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu này của bị hại Bùi Thị N là có cơ sở.

[4.4] Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại Bùi Thị N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Bùi Thị N về việc yêu cầu đòi bồi thường mất thu nhập kinh doanh là 400.000.000 đồng.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Bị hại đã nộp đủ số tiền này theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001185 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2025/HSST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T4) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn T tính từ ngày tạm giữ là ngày 18/10/2024.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
    • - Về án phí sơ thẩm:
      • + Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, cộng bằng 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
      • + Bị hại Bùi Thị N phải nộp 19.390.000đ (Mười chín triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Về án phí phúc thẩm:
      • + Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
      • + Bị hại Bùi Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Bị hại Bùi Thị N đã nộp đủ số tiền này theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001185 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HSST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- Vụ GĐKT1-TANDTC;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Hải An;

- TAND quận Hải An;

- PV06 Công an thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-PT ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 53/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án xét xử hình sự phúc thẩm bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger