|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày: 01-4-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân, ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đậu Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan tại địa chỉ: Số H-số A đường T, quận S thành phố Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T đã tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Ngày 30/11/2020 anh T đi lao động tại nước ngoài, chị M ở nhà nuôi các con. Từ năm 2021 chị M và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung nói chung trong cuộc sống hàng ngày, nên chị M và anh T đã ly thân và không còn liên lạc với nhau cho đến nay. Nay chị M nhận thấy tình trạng hôn nhân của cợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị M làm đơn xin ly hôn với anh Đậu Văn T.
- Về con chung: Chị M và anh T có 02 con chung tên Đậu Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2013 và Đậu Thị Quỳnh T1, sinh ngày 03/5/2017, khi ly hôn chị M có nguyện vọng nuôi 02 con chung không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đậu Văn T có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị M như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M
- Về con chung: Anh T và chị M có 02 con chung tên Đậu Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2013 và Đậu Thị Quỳnh T1, sinh ngày 03/5/2017, hiện nay con chung đang sống cùng chị M. Khi ly hôn anh T có nguyện vọng nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 55, Điều 57, 81, 82, 83 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Đậu Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên Đậu Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2013 và Đậu Thị Quỳnh T1, sinh ngày 03/5/2017 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Đậu Văn T hiện đang lao động tại Đài Loan tại địa chỉ: Số H-số A đường T, quận S thành phố Đ. Tại văn bản trả lời của Phòng Q Công an tỉnh H ngày 25/10/2024 thể hiện: Anh Đậu Văn T, sinh ngày 10/5/1988; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 04/6/2024 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án và đã có văn bản trình bày ý kiến và địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Đồng thời bị đơn có ý kiến về việc nhờ người thân tại Việt Nam giao nhận các văn bản tố tụng của Toà án gửi cho bị đơn. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị M và anh Đậu Văn T theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị M1 và anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T cấp ngày ngày 13/01/2013 nên hôn nhân giữa chị M1 và anh T là hôn nhân hợp pháp. Chị M1 cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do năm 2020 anh T đi lao động tại nước ngoài, chị M1 ở nhà nuôi các con, đến năm 2021 chị M1 và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung nói chung trong cuộc sống hàng ngày, chị M1 và anh T đã ly thân và không còn liên lạc với nhau cho đến nay.
Chị M1 và anh T là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị M1 và anh T xảy ra mâu thuẫn, chị M1 và anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm cảm vợ chồng. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị M1 được ly hôn với anh T.
[2.2] Về con chung: Chị M1 và anh T có 02 con chung là tên Đậu Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2013 và Đậu Thị Quỳnh T1, sinh ngày 03/5/2017. Để đảm bảo cuộc sống ổn định và không làm ảnh hưởng đến quá trình học tập của các cháu. Cần giao cháu N và cháu T1 cho chị M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị M1 không yêu cầu nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị M1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điểu 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, Điều 55, 57,58, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Đậu Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đậu Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2013 và cháu Đậu Thị Quỳnh T1, sinh ngày 03/5/2017 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị M không yêu cầu nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị M và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị M đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000086 ngày 10/10/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Mỹ và anh Trung đã tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/01/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Ngày 30/11/2020 anh Trung đi lao động tại nước ngoài, chị Mỹ ở nhà nuôi các
