Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày 14-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Đặng.

Ông Lê Thành Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T, sinh năm 1995 tại tỉnh Long An; hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Phạm Thị P, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Phan Thị Ngọc N, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/10/2014, bị cáo bị Công an huyện B, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, bị cáo đóng phạt ngày 10/11/2014; ngày 19/10/2024, bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (nay là Phân trại tạm giam khu vực B); có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1988; đăng ký thường trú: Khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Lê Tuyết N1, sinh năm 1985; đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1984; đăng ký thường trú: Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 57, tổ A, khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình T làm nghề bán gà nướng nhưng công việc và thu nhập không ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân, T nảy sinh ý định cướp tài sản của người khác. Chiều ngày 18/10/2024, T đang ở nhà tại ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, đăng nhập vào tài khoản “Hữu Phúc” của T trên ứng dụng Facebook, rồi kết bạn nói chuyện với tài khoản “Nguyễn Bền” của chị Nguyễn Thị B làm nghề bán muối ớt. Lúc này, T nhìn thấy hình ảnh bà B có đeo nhiều trang sức bằng vàng nên nảy sinh ý định gặp bà B để chiếm đoạt vàng. Sau đó, T hỏi đặt mua của chị B 07 hủ muối ớt và hẹn chị B giao hàng vào sáng ngày 19/10/2024 tại khu vực phường M, thành phố B, chị B đồng ý.

Sáng ngày 19/10/2024, T tháo biển số 61K1-313.14 của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh của T, rồi lấy biển số xe mô tô 61G1-018.44 gắn vào. Sau đó, T lấy 01 con dao dài 25cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 12cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 13cm, có đầu nhọn giấu trong ống tay trái áo khoác rồi điều khiển xe mô tô gắn biển số 61G1-018.44 đi đến khu vực thuộc khu phố C, phường M, thành phố B. Tại đây, T quan sát thấy đoạn đường D7 của khu dân cư G, thuộc khu phố C, phường M vắng người qua lại nên điều khiển xe đi vào rồi nhắn tin gửi vị trí cho chị B đến để giao hàng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, chị B điều khiển xe mô tô đến chỗ bà T đậu song song với xe mô tô của T, rồi đưa cho T 01 bịch nylon chứa 07 hủ muối ớt và báo giá 245.000 đồng, Thảo cầm lấy rồi treo vào xe mô tô biển số 61G1-018.44. Lúc này, bà B vẫn đang ngồi trên xe để chờ T trả tiền mua hàng, T giả vờ lấy tiền rồi dùng tay phải lấy con dao từ trong ống tay áo khoác bên trái ra hướng mũi nhọn dao về phía bà B đe dọa nên bà B hoảng sợ nhảy xuống xe đứng lùi lại vào lề đường thì bị té ngã. T xuống xe chạy đến chỗ bà B cầm dao hướng về phía người bà B và nói “chị ngồi im, không có hại chị đâu, chị tháo vàng ra đưa cho em”, bà B hoảng sợ nên tháo 01 dây chuyền vàng có mặt, 01 lắc tay bằng vàng và 03 nhẫn vàng đưa cho T thì Thảo cầm lấy bỏ vào túi áo khoác đang mặc. Sau đó, T yêu cầu bà B đưa điện thoại di động của bà B rồi xóa các nội dung tin nhắn của T đã nhắn trước đó cho chị B. Sau khi xóa xong tin nhắn, T đưa điện thoại lại cho bà B rồi điều khiển xe mô tô biển số 61G1-018.44 chạy về hướng huyện B. Trên đường đi, T đem số tài sản cướp được đến tiệm V thuộc khu phố Đ, thuộc thị trấn L, huyện B, do Nguyễn Thị Mỹ D làm chủ, bán 01 dây chuyền bằng vàng có mặt và 03 nhẫn vàng được số tiền 18.883.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô 61G1-018.44 đi về nhà. Riêng 01 lắc tay bằng vàng, T đã làm rơi ở đâu không rõ. Sau đó, T tháo biển số 61G1-018.44 đem vứt bỏ vào thùng rác rồi lấy biển số 61K1-313.14 gắn vào xe mô tô Honda Wave, màu xanh của T. Tiền bán vàng từ việc cướp tài sản, T đã tiêu xài cá nhân hết.

Đối với bị hại Nguyễn Thị B, sau khi bị T chiếm đoạt vàng đã đến Công an phường M trình báo. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 mũ bảo hiểm màu xanh, đen; 01 áo thun màu cam; 01 áo khoác thun màu xám; 01 quần dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 con dao dài 25cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 12cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 13cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 61K1-313.14 của Nguyễn Đình T; 07 hũ muối ớt.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 128/KL – HĐĐGTS ngày 25/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 dây chuyền bằng vàng loại 18K (trọng lượng 1,337 chỉ), có mặt bằng vàng loại 18K (trọng lượng 0,880 chỉ), trị giá 10.914.291 đồng; 01 lắc tay bằng vàng loại 18K (trọng lượng 2,823 chỉ) trị giá 13.897.629 đồng; 03 nhẫn bằng vàng loại 18K (tổng trọng lượng 1,874 chỉ), trị giá 9.225.702 đồng; 07 hủ muối ớt trị giá 189.000 đồng. Tổng trị giá tài sản định giá 34.226.622 đồng.

Đối với biển số 61G1-018.44, Nguyễn Đình T khai lấy được từ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo cũ, đã hư hỏng để trong kho không sử dụng của cha là ông Nguyễn Văn H (đã chết). Qua tra cứu, biển số này được cấp cho xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, do ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1989, địa chỉ thường trú: phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương đứng tên đăng ký. Qua xác minh, ông H1 không có mặt ở địa phương. Đối với biển số 61G1-018.44 T đã vứt bỏ nên không thu giữ được.

Bản Cáo trạng số 59/CT-VKSBC ngày 12/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.

Tại phần tranh luận:

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 59/CT-VKSBC ngày 12/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Đình T về tội: “Cướp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/10/2024, bà Lê Tuyết N1, là chị của Nguyễn Đình T đã thỏa thuận bồi thường số tiền 40.000.000 đồng cho bà Nguyễn Văn B1, bà B1 không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T. Bà Lê Tuyết N1 cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại B1 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Ngày 21/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng giao trả 07 hủ muối ớt cho bà Nguyễn Thị B nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm màu xanh, đen; 01 áo thun màu cam; 01 áo khoác thun màu xám; 01 quần dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 con dao dài 25cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 12cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 13cm.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 61K1-313.14.

Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Đình T: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đình T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng dao đe dọa ngay tức khắc làm cho bị hại Nguyễn Thị B lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt 01 dây chuyền bằng vàng loại 18K (trọng lượng 1,337 chỉ), có mặt bằng vàng loại 18K (trọng lượng 0,880 chỉ); 01 lắc tay bằng vàng loại 18K (trọng lượng 2,823 chỉ); 03 nhẫn bằng vàng loại 18K (tổng trọng lượng 1,874 chỉ) và 07 hũ muối ớt với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 34.226.622 đồng do bị cáo Nguyễn Đình T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà D không biết 01 dây chuyền bằng vàng loại 18K (trọng lượng 1,337 chỉ), có mặt bằng vàng loại 18K (trọng lượng 0,880 chỉ); 01 lắc tay bằng vàng loại 18K (trọng lượng 2,823 chỉ); 03 nhẫn bằng vàng loại 18K (tổng trọng lượng 1,874 chỉ) là tài sản do bị cáo cướp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố B, tỉnh Bình Dương không xử lý đối với bà D là có căn cứ.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tính chất: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

[5.1] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/10/2024, bà Lê Tuyết N1, là chị của Nguyễn Đình T đã thỏa thuận bồi thường số tiền 40.000.000 đồng cho bà Nguyễn Văn B1, bà B1 không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T. Bà Lê Tuyết N1 cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại B1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.2] Về xử lý vật chứng:

- Ngày 21/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng giao trả 07 hủ muối ớt cho bà Nguyễn Thị B nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm màu xanh, đen; 01 áo thun màu cam; 01 áo khoác thun màu xám; 01 quần dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 con dao dài 25cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 12cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 13cm.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 61K1-313.14.

[6] Đối với biển số 61G1-018.44, Nguyễn Đình T khai lấy được từ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo cũ, đã hư hỏng để trong kho không sử dụng của cha là ông Nguyễn Văn H (đã chết). Qua tra cứu, biển số này được cấp cho xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, do anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1989, nơi thường trú: phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương đứng tên đăng ký. Hiện tại, anh H1 không có mặt ở địa phương. Do biển số 61G1-018.44 T đã vứt bỏ nên không thu giữ được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an không tiến hành xử lý là phù hợp.

[7] Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 38, Điều 46, 47, 48, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 Xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 61K1-313.14, số khung RLHJA3935PY159348, số máy JA70E0235904 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun màu cam; 01 áo khoác thun màu xám; 01 quần dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen; 01 khẩu trang màu trắng và 01 con dao dài 25cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 12cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 13cm.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2025).

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS TP Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo T phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger