TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày 10-3-2025 V/v ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Xuân Quyết;
- Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 30/2025/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 02 năm 2025, về việc: Tranh chấp về ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị Nguyệt Á, sinh năm 1976; ĐKHKTT: Số A, B, tổ dân phố G, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ T, sinh năm 1968; hiện cư trú: M, số nhà A, căn hộ B, Moskovskaya oblast, Liên bang N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2025; các bản tự khai đề ngày 04/02/2025 và ngày 11/02/2025, nguyên đơn (chị Nông Thị Nguyệt Á) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh), vào ngày 23/7/1996. Quá trình chị và anh T chung sống đến năm 1999 thì hai vợ chồng cùng xuất cảnh sang Cộng hoà liên bang N sinh sống và làm ăn. Trong thời gian này vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau về tính cách và bất đồng về quan điểm sống. Do vậy giữa chị và anh T đã tự sống ly thân nhau từ năm 2013 cho đến nay, không còn quan hệ tình cảm gì với nhau nữa. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau và không còn có thể chung sống đoàn tụ được nữa nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị và anh T có một (01) con chung là Vũ Tiến M, sinh ngày 30/9/1996; hiện cháu M đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung: Chị và anh T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn ly hôn, uỷ quyền và xét xử vắng mặt đề ngày 23/10/2024 đã được chứng thực tại Đ tại L Nga, bị đơn (anh Vũ T) trình bày: Thống nhất với chị Nông Thị Nguyệt Á về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nông Thị Nguyệt Á.
Về con chung: Vợ chồng có một (01) con chung là Vũ Tiến M, sinh ngày 30/9/1996; hiện cháu M đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung: Anh và chị Á không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, anh Vũ T và chị Nông Thị Nguyệt Á vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Nguyên đơn là Chị Nông Thị Nguyệt Á có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số A, B, tổ dân phố G, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Bị đơn là anh Vũ T, sinh năm 1968; hiện cư trú: M, số nhà A, căn hộ B, M oblast, Liên bang N. Anh T và chị Á đều có đơn thống nhất lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị Á) và bị đơn (anh T) vắng mặt tại phiên tòa và đều có ý kiến bằng văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T và chị Á.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị Á kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh), vào ngày 23/7/1996 (Chứng nhận kết hôn số 29, quyển số 01, ngày 23/7/1996). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị Á là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện trong thời gian chung sống giữa anh T và chị Á phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều khác biệt về quan điểm sống. Vợ chồng hiện nay đang sống ly thân, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên anh T và chị Á đều có đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn để hai bên ổn định cuộc sống.
[5] Xét thấy, anh T và chị Á đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Chị Á xin ly hôn và anh T cũng có đơn ly hôn nêu ý kiến đồng ý giải quyết ly hôn với chị Á. Do đó, có đủ cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa anh T và chị Á không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á. Xử cho chị Á được ly hôn với anh T.
[6] Về con: Chị Á và anh T đều xác nhận có một (01) con chung là Vũ Tiến M, sinh ngày 30/9/1996; hiện cháu M đã trưởng thành, trên 18 tuổi. Chị Á và anh T đều có ý kiến không đề nghị Tòa án giải quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về tài sản: Chị Á và anh T tự thoả thuận phân chia tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Chị Á là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Chị Á và anh T đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị Nguyệt Á, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Nguyệt Á được ly hôn với anh Vũ T.
- Về con: Chị Á và anh T có một (01) con chung là Vũ Tiến M, sinh ngày 30/9/1996; hiện cháu M đã trưởng thành, trên 18 tuổi. Chị Á và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên Toà án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản: Chị Á và anh T tự thoả thuận phân chia tài sản chung và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn (chị Nông Thị Nguyệt Á) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0001062, ngày 04/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nông Thị Nguyệt Á đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn (chị Nông Thị Nguyệt Á) được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Bị đơn (anh Vũ T) được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châos nhận
