Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 53/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 21-9-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thy Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Đời.
  2. Ông Đoàn Văn Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương – Thư ký Tòa án của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2024/QĐST- HPT ngày 31 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kiều H. Sinh năm: 1986.
    Nơi thường trú: Tổ 06 Thị trấn Đ, huyện Đ1, tỉnh Bình Thuận. Nơi ở hiện tại: K139/97 đường T, phường T1, quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Trần Quang V, sinh năm 1980.
    Nơi cư trú: Tổ 59 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều H trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà xây dựng gia đình với ông Trần Quang V vào năm 2008, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn và kéo dài cho đến nay, nguyên nhân theo bà Bùi Thị Kiều H trình bày là do quan điểm sống tính tình vợ chồng không hợp nên thường xuyên cải vả, ông V nói năng xúc phạm đến bà vì hay nghen tuông vô cớ và áp đảo tinh thần bà hằng ngày làm cho cuộc sống trở nên ngột ngạt, sống không hạnh phúc. Do mâu thuẩn nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả, vì vậy bà xin được ly hôn với ông Trần Quang V.

  • - Về nuôi con chung: Bà Bùi Thị Kiều H xác định có hai con chung là Trần Bảo H, sinh ngày: 26/5/2008 và Trần Gia H, sinh ngày: 12/8/2012. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Bùi Thị Kiều H có nguyện vọng xin được nuôi cả hai người con chung và yêu cầu ông Trần Quang V cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Kiều H xác định vợ chồng không có tài sản chung.
  • - Về nợ chung: Bà Bùi Thị Kiều H xác định vợ chồng không có nợ chung.

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Quang V đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án ly hôn nhưng ông Trần Quang V không đến Tòa án nên không ghi được lời trình bày.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Bùi Thị Kiều H đối với ông Trần Quang V. Đề nghị HĐXX xử cho bà Bùi Thị Kiều H được ly hôn với ông Trần Quang V.
  • - Về quan hệ con chung: Giao cả hai con chung là Trần Bảo H, sinh ngày: 26/5/2008 và Trần Gia H, sinh ngày: 12/8/2012 cho bà Bùi Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Buộc ông Trần Quang V cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn đang cư trú tại tổ 59 phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[3] Nguyên đơn và bị đơn xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn và kéo dài cho đến nay, nguyên nhân mâu thuẩn theo nguyên đơn trình bày là do quan điểm sống tính tình vợ chồng không hợp nên thường xuyên cải vả, bị đơn nói năng xúc phạm đến nguyên đơn vì hay nghen tuông vô cớ và áp đảo tinh thần nguyên đơn hằng ngày làm cho cuộc sống trở nên ngột ngạt, sống không hạnh phúc. Do mâu thuẩn nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn được nữa nên nguyện vọng của nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn. Còn bị đơn mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

[5] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhiều lần để hoà giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn không chấp hành. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng thấy rằng việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với bị đơn không đảm bảo nên Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay không có tin tức gì. Điều này thể hiện bị đơn vừa coi thường pháp luật, vừa thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, bản thân bị đơn không còn thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình với nguyên đơn nữa, mặt khác mâu thuẩn vợ chồng cũng phù hợp với các thông tin mà chính quyền địa phương nơi ông, bà đang cư trú cung cấp. Điều đó chứng tỏ mâu thuẩn vợ chồng ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của nguyên đơn là phù hợp.

[6] Về nuôi con chung: Con chung giữa nguyên đơn và bị đơn có 02 người là Trần Bảo H, sinh ngày: 26/5/2008 và Trần Gia H, sinh ngày: 12/8/2012. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn có nguyện vọng xin được nuôi cả hai người con và yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

[7] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xin được nuôi cả hai con chung thì thấy hiện nay hai người con đang được nguyên đơn nuôi dưỡng và phát triển tốt, bị đơn vắng mặt nên không biết nguyện vọng của bị đơn như thế nào về nuôi con chung, hai người con nhỏ cũng có nguyện vọng được ở với mẹ vì vậy HĐXX thấy rằng không cần thiết phải xáo trộn cuộc sống của các con mà nên tiếp tục giao cả hai con cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với cuộc sống hiện tại của con cũng như phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng của nguyên đơn thì thấy rằng việc làm cha, làm mẹ ai cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với con chung, bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền cho bên nhận nuôi con, tuy nhiên cũng tuỳ thuộc vào khả năng điều kiện công việc, kinh tế của bên cấp dưỡng. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng là chính đáng, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX thấy cần buộc bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng là phù hợp.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Bị đơn vắng mặt không ghi được lời khai nên không xác định được khối tài sản chung và nợ chung của vợ chồng là có hay không, do đó HĐXX thấy cần phải tách phần tài sản chung và nợ chung không giải quyết. Nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì Toà án có thẩm quyền sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[9] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đồng nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con định kỳ 300.000đồng bị đơn phải chịu.

- Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng gồm Báo nhân dân số tiền 3.000.000đồng theo hoá đơn giá trị gia tăng số 001695 ngày 29/7/2024 và Đài tiếng nói Việt Nam số tiền 2.250.000đồng theo phiếu thu số PT 9 ngày 26/7/2024 do nguyên đơn chịu (Đã nộp).

[10] Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng thấy phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ‘Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều H đối với bị đơn ông Trần Quang V.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Kiều H được ly hôn với ông Trần Quang V (Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01 ngày 08/3/2008, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận không còn giá trị pháp lý).
  2. Về quan hệ con chung:

    Giao cả hai con chung Trần Bảo H, sinh ngày: 26/5/2008 và Trần Gia H, sinh ngày: 12/8/2012 cho bà Bùi Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Buộc ông Trần Quang V cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng). Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con kể từ tháng 10/2024 cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi.

    Cả hai bên đương sự đều được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  3. Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000đồng nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều H phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng biên lai thu số 0002679 ngày 25 tháng 6 năm 2024.

    Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con định kỳ 300.000đồng bị đơn ông Trần Quang V phải chịu.

    - Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng gồm Báo nhân dân số tiền 3.000.000đồng theo hoá đơn giá trị gia tăng số 001695 ngày 29/7/2024 và Đài tiếng nói Việt Nam số tiền 2.250.000đồng theo phiếu thu số PT 9 ngày 26/7/2024 do nguyên đơn chịu (Đã nộp).

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - UBND thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Thy Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ - ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ‘Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều H đối với bị đơn ông Trần Quang V.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger