Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Ông Lê Phú Tâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An,

tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số

25/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Dương. Thường trú: số A, đường

L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động

tự do; trình độ học vấn: lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:

không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1968 và bà Trần Thị

H, sinh năm 1972; vợ Đặng Thị Thùy L, sinh năm 2001; bị cáo có 02 con, lớn

sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; nhân thân: không.

* Tiền án:

- Ngày 14/11/2019, bị Tòa án thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương

xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số:

391/2019/HS-ST (đã chấp hành xong).

- Ngày 05/9/2023, bị Tòa án thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt 07

năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số: 276/2023/HS-ST. (chưa

chấp hành án).

- Ngày 31/10/2024, bị Tòa án thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt 09

năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử

dụng trái phép chất ma tuý” theo Bản án số: 318/2024/HS-ST. Tổng hợp hình

phạt của Bản án số 318/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 và Bản án số

276/2023/HSST ngày 05/9/2023 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là

16 năm 6 tháng tù giam (chưa chấp hành án).

* Tiền sự: Ngày 12/7/2016, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ),

tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện

bắt buộc với thời hạn 16 tháng (chấp hành xong ngày 27/4/2017).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Phước Quý H1, sinh năm 1985. Thường trú: Thôn

P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Định Quang N, sinh năm 2005, vắng

mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn T không có nghề nghiệp ổn định, sinh sống tại số A, đường L,

khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khoảng 10 giờ, ngày

18/11/2024, T điều khiển xe mô tô 2 bánh, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ,

bạc, biển số: 68T1-510.10, (số máy, số khung bị mài phá) đi thay vỏ xe tại tiệm

sửa xe gần khu vực khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau

khi thay vỏ xe xong, T điều khiển xe đi về thì nảy sinh ý định tìm người dân đi

trên đường có đeo dây chuyền chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. T điều khiển xe

biển số: 68T1-510.10 đi lòng vòng khu vực địa bàn thành phố D tìm tài sản để

chiếm đoạt. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, cùng ngày, T điều khiển xe mô tô 2

bánh, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ, bạc, biển số: 68T1-510.10 đi đến đoạn

đường C, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương

nhìn thấy anh Nguyễn Phước Quý H1 đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda

Airblade biển số: 18H1-205.52 chạy trên đường trên cổ có đeo 01 sợi dây

chuyền bằng kim loại màu vàng nên quay xe lại chạy theo phía sau. Khi anh H1

đi chậm, xi nhan rẽ trái để vào nhà thì T tăng ga áp sát phía bên trái anh H1 rồi

dùng tay trái giật sợi dây chuyền anh H1 đang đeo trên cổ. Tuy nhiên, T giật

không trúng và đuôi xe của T máng vào đầu xe của anh H1 khiến T mất thăng

bằng té ngã xe xuống đường, T dựng xe lên định chạy tẩu thoát thì bị anh H1

cùng anh Nguyễn Định Quang N là con trai anh H1 khống chế bắt giữ giao cho

Công an phường T. Sau đó, Công an phường T lập hồ sơ chuyển cho Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an thành phố D điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 27/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh

Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối

với Bùi Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 171 của

Bộ luật Hình sự.

Tại Kết luận giám định số 7139/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phân

viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 dây chuyền

bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 31,0873 gam, có thành phần kim loại

chính là vàng (Au), hàm lượng: 61,89%.

Tại Kết luận định giá tài sản số 240/KLĐG-HĐĐGTS ngày 16/12/2024

của Hội đồng định giá thành phố D, kết luận: 01 dây chuyền kim loại màu vàng

có trọng lượng 8,29 chỉ, hàm lượng: 61,89% (vàng 610) có trị giá: 39.411.489

đồng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối

lượng: 31,0873 gam, có thành phần kim loại chính là vàng (Au), hàm lượng:

61,89% và 01 xe mô tô 2 bánh, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ - bạc, gắn

biển số: 68T1-510.10, số máy: Mài phá, số khung: Mài phá.

* Về xử lý vật chứng:

- Ngày 16/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật

chứng trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Phước Quý H1 01 dây chuyền bằng kim

loại màu vàng, khối lượng: 31,0873 gam, có thành phần kim loại chính là vàng

(Au), hàm lượng: 61,89%.

- Đối với xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đỏ - bạc,

số máy: mài phá, số khung: mài phá. Tại bản Kết luận giám định số 171/KL-

KTHS (SKSM) ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết

luận xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đỏ-bạc, gắn biển số

68T1-510.10, có số khung nguyên thuỷ: RLCUG1?...? (dấu “?” là chữ số bị mài

sâu không đọc được), số máy nguyên thuỷ: G3M5E-159786. Kết quả xác minh

số máy nguyên thuỷ: G3M5E-159786 là loại xe hai bánh nhãn hiệu Yamaha

Exciter B5V2, màu sơn đỏ bạc, biển số 61N1-214.49, số máy: G3M5E159786,

số khung: RLCUG1220NY018973, ngày đăng ký: 20/9/2022 do anh Nguyễn

Ngọc S đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh S đã bị mất trộm chiếc xe vào

tháng 6/2024 tại quán C trên đường H thuộc phường T, thành phố D, tỉnh Bình

Dương cho đến nay chưa trình báo cơ quan Công an. Việc bị cáo T sử dụng xe

mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội anh S không biết nên

ngày 14/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe

cho anh S.

- Đối với biển số xe: 68T1-510.10 qua xác minh là loại xe hai bánh, nhãn

hiệu Honda, số loại Wave RSX F1, màu sơn đen đỏ, số máy: JA38E0519390, số

khung: RLHJA3813KY0371580, ngày đăng ký: 27/8/2019 do chị Hà Thị Kim P

đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh tại địa chỉ thường trú xác định chị P có đăng

ký thường trú tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang nhưng hiện tại không có

mặt tại địa phương, đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2021 cho đến nay và không

rõ hiện tại đang ở đâu nên không làm việc được. Đây là công cụ để thực hiện

hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ (đã đăng báo tìm chủ sở hữu).

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKS-DA ngày 17 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm

sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội

“Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật

Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân

thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị

Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản

2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T với

mức án từ 04 đến 05 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt tại

Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 theo quy định của

pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không đề nghị xem

xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số

68T1-510.10.

Bị hại anh Nguyễn Phước Quý H1 vắng mặt và có văn bản trình bày ý

kiến: Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 đã nhận lại 01 dây chuyền bằng vàng, anh

H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Anh

H1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Bùi Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm

tội và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về

với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công

an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm

sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình

tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên

tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại

gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng

như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã

truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu,

chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết

luận: Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày

18/11/2024, tại đoạn đường C, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố

D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Bùi Văn T điều khiển xe mô tô 2 bánh, nhãn hiệu

Yamaha Exciter, màu đỏ, bạc, biển số: 68T1-510.10 cướp giật 01 dây chuyền

kim loại màu vàng của anh Nguyễn Phước Quý H1 rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Theo Kết luận giám định số 7132/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phân viện

khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định 01 dây chuyền bằng kim

loại màu vàng, khối lượng: 31,0873 gam, có thành phần kim loại chính là vàng

(ký hiệu hóa học là A), hàm lượng: 61,89%. Theo Kết luận định giá tài sản số

240/KLĐG-HĐĐGTS ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản

thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố D xác

định 01 dây chuyền kim loại màu vàng có trọng lượng 8,29 chỉ, hàm lượng:

61,89% (vàng 610) có trị giá: 39.411.489 đồng. Bị cáo Bùi Văn T có 02 tiền án

chưa được xóa án tích, nay tiếp tục dùng phương tiện nguy hiểm là xe môtô 02

bánh để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội

“Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Dùng thủ đoạn nguy

hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171

của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ

An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ,

đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Bùi Văn T là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã

hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo

vệ, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý hoang mang cho

người dân tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình

thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực

hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý

thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách

ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị

cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần

xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị

cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như

tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đề nghị giảm nhẹ

hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình

sự đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đã xâm phạm

quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh

trật tự tại nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý hoang mang cho người dân tại địa

phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo,

cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo

thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa

chung. Đồng thời cần tổng hợp hình phạt 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù

tại Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án

nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) biển số 68T1-510.10 không còn

giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đặt ra xem

xét, giải quyết.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt là chưa phù hợp

nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại

diện Viện Kiểm sát.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình

sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và

khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình

phạt 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số

318/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh

Bình Dương buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 20 (hai mươi)

năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/11/2024 (bị cáo được

khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2023 đến ngày 25/8/2023 theo

Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2024/HS-ST ngày 31/10/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106

của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số 68T1-510.10.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2025, giữa Cơ quan

cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành

phố Dĩ An)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng

Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ

ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú;
  • - UBND xã, phường (nơi phát hiện tội phạm);
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Dĩ An;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

- Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T phạm tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger