Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-PT

Ngày 06/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh

Các Thẩm phán: Ông Giáp Bá Dự và bà Cao Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Rmah H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

* Bị cáo có kháng cáo:

Rmah Hoai, sinh ngày 01/01/1974, tại huyện C, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Dân tộc: Jrai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rah Lan K và bà Rmah H1 (Đều đã chết); Bị cáo có vợ là bà Siu H2 (Đã chết) và có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

* Người bào chữa cho bị cáo Rmah H: Ông Bùi Quang T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G; Địa chỉ: Số D Đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người phiên dịch: Bà Nay H3; địa chỉ: Thôn D, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 15/3/2023, Bùi Ngọc V (sinh năm 1973, trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai) có giấy phép lái xe hạng E theo quy định, trực tiếp điều khiển xe ô tô khách BKS: 81B - 015.08 (nhãn hiệu: Thaco, loại xe: Ô tô khách giường, màu sơn: trắng-xanh) đi trên đường H theo hướng Đắk Lắk -> Gia Lai với tốc độ khoảng 62 - 70km/h. Khi đến km 1647 + 200m đường H thuộc địa phận P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, đoạn đường này là đường hai chiều, được rải nhựa nhẫn, phẳng, đoạn đường thẳng, nằm ngoài khu vực đông dân cư, mặt đường rộng 11m, có vạch sơn vàng không liên tục kẻ giữa tim đường, hai bên đường có nhiều hộ dân sinh sống, có biển báo chợ phía trước. Lúc này, V điều khiển xe ô tô di chuyển giữa hai làn đường, chiều hướng lệch về bên phải thì V phát hiện cách đầu xe ô tô do V điều khiển khoảng 60 - 70m có xe mô tô BKS: 51R3 - 4584 (nhãn hiệu: Fimex, màu sơn: đỏ, dung tích xilanh: 97cm³) do Rmah H (sinh năm 1974, trú tại: thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, trực tiếp điều khiển chở phía sau vợ mình là bà Siu H2 (sinh năm 1974, trú tại: thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) đi cùng chiều phía trước (cả hai đều đội mũ bảo hiểm). Khi đó, V tiếp tục điều khiển xe ô tô di chuyển về phía trước. Khi khoảng cách giữa hai xe còn khoảng 12m thì Rmah H điều khiển xe mô tô chuyển hướng sang đường từ phần đường phải (cách mép đường phải khoảng 01m) sang phần đường trái nhưng không có tín hiệu báo hướng rẽ. Thấy vậy, Bùi Ngọc V đạp phanh rồi đánh lái điều khiển xe ô tô đi sang trái để né tránh, tuy nhiên khi đó xe mô tô do R điều khiển đã di chuyển đến khu vực phần tim đường, V không xử lý kịp nên phần đầu xe ô tô do V điều khiển đã tông vào khu vực phía sau đuôi xe mô tô do H điều khiển. Sau va chạm, xe ô tô do V điều khiển đẩy xe mô tô do H điều khiển về phía trước thêm một đoạn rồi xe mô tô và người ngồi trên xe mô tô ngã xuống đường bên phần đường trái, xe ô tô do V điều khiển cũng dừng lại bên phần đường trái theo hướng xe lưu hành. Hậu quả bà Siu H2 chết trên đường đi cấp cứu, R bị thương, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.

Sau tai nạn xảy ra, các cơ quan chức năng đã phối hợp tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại km 1647 + 200m đường H thuộc địa phận P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều, được rải nhựa nhẫn, phẳng, đoạn đường thẳng, nằm ngoài khu vực đông dân cư, mặt đường rộng 11m, có vạch sơn vàng không liên tục kẻ giữa tim đường, hai bên đường có nhiều hộ dân sinh sống, có biển báo chợ phía trước. Tiến hành khám nghiệm và đo vẽ về bên mép đường bên trái tính theo hướng từ Đắk Lắk đi Gia Lai có các dấu vết như sau:

  • - Trên mặt đường nhựa phát hiện vết phanh (1) có màu đen, liên tục, đẩy theo chiều từ Đắk Lắk đi Gia Lai, từ phải sang trái. Cuối vết phanh (1) tiếp giáp với mặt ngoài bánh xe ngoài cùng phía sau bên trái xe ô tô 81B - 015.08. Vết phanh (1) có diện (33,60 x 0,26)m. Đo từ đầu vết phanh (1) vào mép đường trái là 4,16m và đo đến đầu vết phanh (2) là 0,40m.
  • - Trên mặt đường nhựa phát hiện vết phanh (2) có màu đen, liên tục, đẩy theo chiều từ Đắk Lắk đi Gia Lai, từ phải sang trái. Cuối vết phanh (2) tiếp giáp với mặt ngoài bánh xe thứ hai (từ trái sang phải) phía sau bên trái xe ô tô 81B - 015.08. Vết phanh (2) có diện (33,40 x 0,26)m. Đo từ đầu vết phanh (2) vào mép đường trái là 4,50m và đo đến đầu vết cà (3) là 8,30m.
  • - Trên mặt đường nhựa phát hiện vết cà (3) là vết cà đơn, không liên tục, đẩy theo chiều từ Đắk Lắk đi Gia Lai, từ phải sang trái. Cuối vết cà (3) tiếp giáp gác để chân phía trước bên phải xe mô tô 51R3 - 4584. Vết cà (3) có diện (34,8 x 0,30 x 0,01)m. Đo từ đầu vết cà (3) vào mép đường trái là 4,86m.
  • - Trên mặt đường nhựa phát hiện xe ô tô 81B - 015.08 (4) sau tai nạn dừng lại tại hiện trường, trạng thái xe tắt máy, đầu xe hướng về Gia Lai, đuôi xe hướng về Đắk Lắk. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô vào mép đường trái là 0,13m và đo đến tâm trục bánh trước xe mô tô 51R3 - 4584 là 2,33m, đo từ tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô vào mép đường trái là 0,43m.
  • - Trên mặt đường nhựa phía trước đầu xe ô tô 81B - 015.08 phát hiện xe mô tô 51R3 - 4584 (5) sau tai nạn bị đổ ngã về bên phải, đầu xe hướng về mép đường trái, đuôi xe hướng về mép đường phải, trạng thái xe không hoạt động. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô vào mép đường trái là 0,16m, đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô vào mép đường trái là 01m.

Trên cơ sở khám nghiệm tử thi, tại bản Kết luận giám định tử thi số 285 ngày 05/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết bà Siu H2 là: Chấn thương ngực kín.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 15/3/2023 của Đ trật tự Công an huyện C đối với R thì kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của H là: 0,773 miligam/1 lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với H là âm tính với chất ma túy.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 15/3/2023 của Phòng C Công an tỉnh G đối với Bùi Ngọc V thì kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của V là: 0,000 miligam/1 lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với V là âm tính với chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp ngày 31/3/2023 của Sở giao thông vận tải tỉnh G kết luận: Xe ô tô biển số 81B - 015.08 tại thời điểm giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại các bản Kết luận định giá tài sản số 44 ngày 18/4/2023 và số 46 ngày 19/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

  • - Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe ô tô BKS: 81B - 015.08 là 8.400.000 đồng. Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe mô tô BKS: 51R3 - 4584 là 1.440.000 đồng.
  • - Đối với xe ô tô khách BKS: 81B - 015.08 (nhãn hiệu: Thaco, loại xe: Ô tô khách giường, màu sơn: trắng-xanh), quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bùi Ngọc V nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý giao trả chiếc xe trên cho Bùi Ngọc V.
  • - Đối với xe mô tô BKS: 51R3 - 4584 (nhãn hiệu: Fimex, màu sơn: đỏ, dung tích xilanh: 97cm³), quá trình điều tra xác định Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Võ Duy H4, Địa chỉ: 1 T, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã Ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an quận G, thành phố Hồ Chí Minh xác minh, làm việc với Võ Duy H4 để làm rõ nguồn gốc của chiếc xe mô tô trên. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa nhận được kết quả ủy thác từ cơ quan được ủy thác. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện C sẽ tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên, khi nào nhận được kết quả ủy thác thì Cơ quan CSĐT Công an huyện C sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Sau sự việc xảy ra, Rmah H đã đứng ra tổ chức, lo chi phí mai táng cho vợ mình là bà Siu H2 với số tiền là 50.000.000 đồng. Ông Bùi Ngọc V đã hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền là 85.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Rmah H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Rmah H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Rmah H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xử lý hành vi của Bùi Ngọc V về dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo: Ngày 24/9/2024 bị cáo Rmah H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo với lý do: Bị cáo là người đồng báo dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn, nhận thức, hiểu biết pháp luật hạn chế, việc vợ bị cáo bà Siu H2 tử vong là ngoài ý muốn, người điều khiển xe ô tô có một phần lỗi, hiện nay gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo thuộc hộ nghèo, phải đi làm ăn để trả nợ ngân hàng, nếu bị cáo đi chấp hành án thì gia đình vô cùng khó khăn, không có ai trả nợ, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

  • * Bị cáo Rmah H khai nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • * Kiểm sát viên có quan điểm: Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chúng cứ để xem xét, mức án Tòa sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. Miễn án phí phúc thẩm cho bị cáo.
  • * Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế; sau phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại và được đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, vợ bị cáo đã tử vong trong vụ án, người điều khiển xe ô tô có một phần lỗi, bị cáo nuôi con nhỏ, hiện nay gia đình bị cáo rất khó khăn, thuộc hộ nghèo khó; có cha mẹ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo, nên được được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 15/3/2023 bị cáo Rmah H đã sử dụng rượu, bia và không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe mô tô dung tích xilanh 97cm³ chở theo phía sau bà Siu H2 (là vợ của bị cáo), đến km 1647 + 200m đường H thuộc địa phận P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai bị cáo điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua đường thiếu chú ý quan sát, không có tín hiệu báo hướng rẽ, nên đã va chạm với xe ô tô khách do ông Bùi Ngọc V điều khiển. Hậu quả, bà Siu H2 tử vong.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Rmah H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

  1. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng với hai tình tiết định khung tăng nặng là “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”, có mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù. Quá trình xét xử Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả về hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế; sau phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại và được đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có cha mẹ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, nên đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự chỉ xử phạt bị cáo 18 tháng tù là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục, cải tạo riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không phát sinh thêm tình tiết mới để xem xét, nên kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Rmah H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Rmah H.

Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Rmah H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:

Bị cáo Rmah H được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - CQCSĐT huyện Chư Pưh;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - TAND huyện Chư Pưh;
  • - Chi cục THADS huyện Chư Pưh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, THS, hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 53/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Rmah H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger