Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 29-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sĩ

Ông Lê Văn Sắng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân

huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Hoàng N, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Nu; nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1976 và bà Đỗ Thị Mỹ E, sinh năm 1977; có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Trần Văn H1, sinh năm 1980 (có mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Võ Văn H2, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  1. Trần Minh H3, sinh năm 1993 (có mặt)
  2. Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Mai Quốc C, sinh năm 1996 (có mặt)
  4. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Đinh Văn Ba L, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt)
  6. Trần Thị Bé T, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt)
  7. Phan Văn T1, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt)
  8. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  9. Trần Thanh L1, sinh năm 1998 (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

    Nơi ở hiện tại: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  11. Trần Văn P, sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt)
  12. Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt)
  13. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt)
  14. Phạm Thị Thu N1, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt)
  15. Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  16. Nguyễn Văn H4, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt)
  17. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 24/02/2024 Đỗ Hoàng N đến nhà Trần Minh H3 thuộc ấp C, xã A, huyện T để uống bia, trong lúc uống N nghe H3 nói chuyện với vợ tên Trương Mỹ H5, khi đi mua bia gặp Trần Văn H1 (Đen), bị H1 dùng lời lẽ thô tục liên quan đến vụ tính tiền bến bãi để lúa. Sau đó, H3 đi vệ sinh cách nhà khoảng 50 mét, N thấy H3 đi hơi lâu nên N lấy dao loại Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng dùng để gọt trái cây tại bàn nhậu giấu vào thắt lưng quần. Lúc sau, N thấy Mai Quốc C chạy xe ngang qua nên kêu C lại xin chở nhờ đi công việc, C đồng ý và chở N đi, C không biết chuyện mâu thuẫn của H3 trước đó. Khi cả hai đến chỗ H3 đi vệ sinh, N kêu C dừng xe lại và nói với H3: “Nguyên nhân cự cải với ông H1 và kêu đi gặp H1 nói chuyện”, H3 bước lên xe (không biết N chuẩn bị hung khí đánh H1), C tiếp tục điều khiển xe chở N ngồi giữa, H3 ngồi phía sau chạy hướng về nhà của C.

Khoảng 17 giờ cùng ngày 24/02/2024, khi đến gần trại H1 ngồi cặp mé kênh B thuộc ấp C, xã A, huyện T, H3 bước xuống xe trước, sau đó đến Nam; N không nghe H3 nói gì và cũng không thấy H3 chỉ tay về phía H1, tự N hỏi lớn tiếng “ai là anh Đ”, lúc này N nghe trong trại có người lên tiếng nhưng không nghe rõ nội dung gì, N nghĩ anh Đ (H1) trả lời nên N vừa đi nhanh về phía H1 vừa rút dao mang theo ở thắt lưng trong người ra đi đến gần H1, N dùng tay phải cầm cây dao đâm 01 cái trúng vào vùng đầu gối chân trái của H1. Lúc này, H3 định can ngăn nhưng bị mọi người xung quanh ngăn lại do nghĩ H3 vào đánh H1, C vẫn còn ngồi trên xe lo đạp máy (do xe đã bị hư bộ phận đề) và sự việc diễn ra nhanh nên C không kịp phản ứng. Khi được mọi người can ra, Nam được H3 ôm kéo đưa lên xe và C được người dân xung quanh nhờ C chở N cùng H3 về nhà của H3 nhằm mục đích can ngăn, không để N tiếp tục đánh H1. Sau khi sự việc xảy ra, H1 đến Trạm y tế xã A điều trị vết thương và được chuyển đến Bệnh viện Đ1 và Bệnh viện Đ2 điều trị từ ngày 24/02/2024 đến ngày 28/02/2024 xuất viện. Ngày 13/3/2024 H1 có đơn yêu cầu xử lý hành vi của N.

Vật chứng thu giữ: 01 cái quần Jeans dài, màu xanh, hiệu QVJEANS & CO, bị thủng một lỗ ngay vị trí giữa quần mặt ngoài ống bên trái, kích thước dài 02 centimet; 01 cái áo thun dài tay, màu xanh, có logo in chữ THIÊN TÂN màu vàng và số 0277.3898.555 màu trắng, tất cả đã qua sử dụng của Võ Văn H2 và Trần Văn H1.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 253/KLTTCT-TTPYD9T, ngày 10/5/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận: Sẹo mổ + Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối trái, kích thước lớn. Tỷ lệ tổn thương: 3%; Sẹo dẫn lưu mặt ngoài 1/3 dưới đùi trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 1%; Đứt dây chằn chéo trước điều trị phục hồi tốt. Tỷ lệ tổn thương: 13%; Đứt dây chằn chéo sau điều trị phục hồi tốt. Tỷ lệ tổn thương: 13%. Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn H1 tại thời điểm giám định là: 27%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư; Kết luận khác: Thương tích trên do vật sắc nhọn gây nên.

Quá trình điều tra, N khai nhận toàn bộ hành vi dùng dao đâm H1 nêu trên, riêng con dao Nam gây thương tích cho H1, N trình bày khi đâm H1 xong, được mọi người đến can ngăn nên đã ném bỏ dao xuống mé kênh 2/9, không nhớ rõ vị trí cụ thể, Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản truy tìm nhưng không thu hồi được dao trên. Đối với H1 cho rằng sau khi N đâm trúng chân H1 bằng dao xong, khi được mọi người can ngăn ra ngoài xe, N tiếp tục rút trong người ra thêm cây kéo và dùng lời lẽ thô tục hâm dọa nhưng được Đinh Văn Ba L và vợ Ba L can ngăn nên N đi về. Qua làm việc, Ba L và Trần Văn Bé T2 (vợ B), Phan Văn T1, Võ Văn H2 trình bày chỉ thấy H1 và N cự cãi nhau nhưng không biết nội dung gì, Lê can N2 đẩy N ra ngoài, sau đó mới thấy xô sát biết H1 bị thương ở chân. Lê, Bé T, H2, T1 không thấy N cầm kéo. Riêng Trần Thanh L1 (cháu rể H1) trình bày có thấy N cầm kéo nhưng không rõ cầm tay nào, loại kéo và kết cấu như thế nào nên không đủ căn cứ để xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo N đã bồi thường cho bị hại H1 về viện phí, chi phí với điều trị thương tích số tiền 4.700.000 đồng; chi phí điều trị phát sinh và chi phí khác trong quá trình điều trị vết thương số tiền 4.500.000 đồng, tổng cộng 9.200.000 đồng, bị hại H1 đã nhận tiền xong. Ngoài ra, bị hại H1 yêu cầu bị cáo N bồi thường tiền mất sức lao động trong thời gian 06 tháng, tiền tổn thất tinh thần, thiệt hại do mất tiền cọc mua bán lúc 25.000.000 đồng. Bị cáo N không thống nhất bồi thường số tiền trên.

Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSTN ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Công văn số: 257/CV-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Đỗ Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Công văn số: 257/CV-VKSTN ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thể hiện: Hành vi của H3, C không đồng phạm với N.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và Công văn số: 257/CV-VKSTN ngày 30/10/2024, truy tố bị cáo Đỗ Hoàng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng N, phạm tội “Cố ý gây thương tích” mức hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo N đã bồi thường cho bị hại H1 về chi phí với điều trị thương tích số tiền 4.700.000 đồng; chi phí điều trị phát sinh và chi phí khác trong quá trình điều trị vết thương số tiền 4.500.000 đồng, tổng cộng 9.200.000 đồng, bị hại H1 đã nhận tiền xong, không yêu cầu bồi thường khoản tiền này thêm. Tại phiên toà, bị hại H1 yêu cầu bị cáo N bồi thường khoản tiền bị mất tiền cọc lúa 15.000.000 đồng; khoản tiền ngày công lao động và thu nhập bị mất số tiền 14.000.000 đồng và khoản tiền tổn thất tinh thần số tiền 45.000.000 đồng, tổng cộng 74.000.000 đồng. Bị cáo N đồng ý bồi thường các khoản theo yêu cầu của bị hại H1 tổng số tiền 74.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo N bồi thường thiệt hại cho bị hại H1 số tiền 74.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái quần Jeans dài, màu xanh, hiệu QVJEANS & CO, bị thủng một lỗ ngay vị trí giữa quần mặt ngoài ống bên trái, kích thước dài 02 centimet của Trần Văn H1; 01 cái áo thun dài tay, màu xanh, có logo in chữ THIÊN TÂN màu vàng và số 0277.3898.555 màu trắng của Võ Văn H2, tất cả đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng, do bị hại H1 và anh H2 không yêu cầu nhận lại.

Bị cáo Đỗ Hoàng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung cáo trạng đã truy tố, thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng pháp luật, hình phạt, xử lý vật chứng, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H1 tiền mất cọc lúa là 15.000.000 đồng; khoản tiền ngày công lao động và thu nhập bị mất số tiền 14.000.000 đồng; tổn thất tinh thần số tiền 45.000.000 đồng, tổng cộng 74.000.000 đồng.

Bị hại Trần Văn H1 trình bày: Bị hại thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 và mức hình phạt đề nghị áp dụng cho bị cáo cũng như về xử lý vật chứng. Tại phiên toà, bị cáo đã xin lỗi bị hại và hoàn cảnh bị cáo cũng khó khăn nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại số tiền tổng cộng là 9.200.000 đồng xong, không yêu cầu bồi thường bổ sung khoản tiền này. Đối với tiền mất cọc lúa là 15.000.000 đồng; khoản tiền ngày công lao động và thu nhập bị mất số tiền 14.000.000 đồng; tổn thất tinh thần số tiền 45.000.000 đồng, tổng cộng 74.000.000 đồng, anh H1 yêu cầu bị cáo N bồi thường tiếp số tiền này. Ngoài ra, anh H1 không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật là sai nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Ba L, T1, L1, H2, P, S, C1, N1, H4, Bé T2 đến tham gia phiên toà, nhưng Ba L, L1, T1, H2, P, S, C1, N1, H4, Bé T2 vắng mặt có lý do. Quá trình điều tra, anh H2 và tất cả người làm chứng đã có lời khai được lưu vào trong hồ sơ vụ án. Bên cạnh đó, anh H2 không có yêu cầu được nhận lại chiếc áo do không còn giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án và không có yêu cầu nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản thực nghiệm điều tra và Bản ảnh cùng ngày 11/7/2024 của Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp và Bản ảnh ngày 22/10/2024 của Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Lời khai bị hại và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/02/2024 giữa H1 và H3 có mâu thuẫn với nhau nên đến khoảng 17 giờ cùng ngày, trên đường về nhà C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61-T7 6946 gặp N, N nhờ C cho N và H3 quá giang xe đến trại của H1 cặp mé kênh 2/9 thuộc ấp C, xã A, huyện T. Đến nơi, Nam tự đi lại chỗ H1 vừa đi N lấy dao giấu thắt lưng quần cầm trên tay phải, loại dao Thái Lan dùng để cắt trái cây đâm 01 cái trúng vào vùng đầu gối chân trái của H1. Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 253/KLTTCT-TTPYD9T, ngày 10/5/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận: tổn thương cơ thể của Trần Văn H1 tại thời điểm giám định là: 27%, do vật sắc nhọn gây nên.

Bị hại H1 cho rằng bị cáo N sau khi dùng dao đâm bị hại xong được mọi người can ra ngoài xe thì bị cáo có cầm cây kéo dùng lời lẽ hâm dọa, sự việc này có anh L1 (cháu rễ bị hại) chứng kiến. Tuy nhiên, lời khai của người làm chứng Đinh Văn Ba L, Trần Thị Bé T, Phan Văn T1 và Võ Văn H2 có mặt tại hiện trường không thấy bị cáo N cầm kéo, vật chứng thu giữ tại hiện trường cũng không có cây kéo nên không có cơ sở xem xét đối với lời khai bị hại.

Do đó, Cáo trạng số: 45/CT-VKSTN ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

a) .................................

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, giữa bị cáo và bị hại không quen biết nhau và không có mâu thuẫn từ trước, khi uống bia chỉ nghe H3 và H1 có mâu thuẫn, tức giận nhất thời không kiềm chế bản thân đã dùng dao Thái Lan đâm vào vùng đầu gối chân trái của bị hại H1 với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng phòng ngừa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (theo xác nhận ngày 06/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện T), phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo mua bán nhỏ thu nhập thấp, không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo N đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho anh H1 nhận xong tổng cộng 9.200.000 đồng gồm: Tiền viện phí số tiền 4.700.000 đồng và ngày 09/8/2024 bồi thường thêm chi phí điều trị phát sinh và chi phí khác trong quá trình điều trị vết thương số tiền 4.500.000 đồng. Bị hại H1 không yêu cầu bồi thường thêm chi phí điều trị thương tích.

Tại phiên tòa, bị hại H1 yêu cầu bị cáo N bồi thường thiệt hại do mất tiền cọc lúa là 15.000.000 đồng, ngày công lao động và thu nhập bị mất là 14.000.000 đồng; tổn thất tinh thần số tiền 45.000.000 đồng, tổng cộng 74.000.000 đồng, ngoài ra, anh H1 không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác. Bị cáo N đồng ý bồi thường cho bị hại H1 gồm tiền mất cọc lúa là 15.000.000 đồng, ngày công lao động và thu nhập bị mất là 14.000.000 đồng; tổn thất tinh thần số tiền 45.000.000 đồng, tổng cộng 74.000.000 đồng.

Xét thấy, bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị vết thương cho bị hại nhận xong số tiền 9.200.000 đồng và bị hại không có yêu cầu bồi thường tiếp về khoản thiệt hại này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tại phiên toà, bị cáo và bị hại đã thoả thuận thống nhất về các khoản bồi thường như tiền mất cọc lúa 15.000.000 đồng, ngày công lao động và thu nhập bị mất 14.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 45.000.000 đồng do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo gây ra với tổng số tiền 74.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Do đó, cần buộc bị cáo N bồi thường tiếp cho bị hại H1 số tiền 74.000.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 cái quần Jeans dài, màu xanh, hiệu QVJEANS & CO, bị thủng một lỗ ngay vị trí giữa quần mặt ngoài ống bên trái, kích thước dài 02 centimet (của Trần Văn H1); 01 cái áo thun dài tay, màu xanh, có logo in chữ THIÊN TÂN màu vàng và số 0277.3898.555 màu trắng (của Võ Văn H2), tất cả đã qua sử dụng. Xét thấy, quá trình điều tra anh H2 không có yêu cầu nhận lại, đồng thời tại phiên tòa H1 không yêu cầu nhận lại và các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đề nghị tịch thu tiêu hủy là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận.

[8] Đối với hành vi của C sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 61-T7 6946 chở N, H3 đi đến trại của H1 để N có điều kiện dùng dao gây thương tích cho H1 và sau khi N gây thương tích cho H1 xong C chở H3 với N về; hành vi của H3 đồng ý với N đến gặp H1 để giải quyết mâu thuẫn. Xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông xác định: Hành vi của H3, C không đồng phạm với N theo nội dung Công văn số 257/CV-VKSTN ngày 30/10/2024 và không truy tố đối với C, H3. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Đỗ Hoàng N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Văn H1 tiền mất cọc lúa là 15.000.000 đồng, tiền ngày công lao động và thu nhập bị mất 14.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 45.000.000 đồng, tổng cộng là 74.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái quần Jeans dài, màu xanh, hiệu QVJEANS & CO, bị thủng một lỗ ngay vị trí giữa quần mặt ngoài ống bên trái, kích thước dài 02 centimet; 01 (một) cái áo thun dài tay, màu xanh, có logo in chữ THIÊN TÂN màu vàng và số 0277.3898.555 màu trắng, tất cả đã qua sử dụng.

(Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Hoàng N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.700.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - CQ CSĐT CA H. Tam Nông;
  • - CQ THAHS CA H. Tam Nông;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger