Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Lả

Ông Mùa A Phềnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TL-HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn T - Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1980, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn S và Con bà: Tòng Thị T1; Vợ: Lò Thị C; Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T2:

  1. Nguyễn Thị T3 - Sinh năm: 1950; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  2. Chị Nguyễn Thị T4 - Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

- Người đại diện theo ủy quyền của bà T3: Bà Nguyễn Thị T4 - Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt);

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Việt T5 - Sinh năm: 2003; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;
  2. Nguyễn Thị Minh P - Sinh năm: 2007; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Minh P: Chị Nguyễn Thị T4 - Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt);

- Người đại diện theo ủy quyền của anh T5: Chị Nguyễn Thị T4 - Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt);

  1. Chị Lò Thị C - Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt);

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Thế V - Sinh năm: 1973; Địa chỉ: Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt);
  2. Anh Nguyễn Minh T6 - Sinh năm: 1995; Địa chỉ: Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/01/2024, Cà Văn T điều khiển máy phay có số máy 1609228073 kéo theo xe thùng ba bánh chở mạ và vợ là Lò Thị C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1-593.28 cùng đi ra cánh đồng để cấy mạ. Khi đến khu vực đường nhựa có chiều rộng lòng đường là 7,45m, thuộc đội G, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, T tháo xe thùng ba bánh chở mạ ra rồi để máy phay trên lòng đường bên phải theo hướng Quốc lộ B đi vào bản Noong Nhai 2, xã T, đầu máy phay hướng về phía bản Noong Nhai 2, trục trước bánh xe bên phải của máy phay cách mép đường bên phải 2,33m, trục sau bánh xe máy phay cách mép đường bên phải 2,93m, chiều rộng mép ngoài của hai bánh trước máy phay là 01m, mái che tự chế của máy phay dài 1,4m, rộng 01m, cạnh ngoài bên trái mái che cách mép đường bên phải 3,87m; xe thùng ba bánh T để sát mép đường bên phải phía sau máy phay khoảng 08m; còn xe mô tô do C điều khiển thì để sát mép đường bên phải phía sau xe thùng ba bánh khoảng 02m. Sau đó T cùng chị C xuống ruộng cấy mạ.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, cấy mạ xong, chị C dắt xe mô tô để ở giữa xe thùng ba bánh và máy phay, cách máy phay khoảng 04m để chở máy cấy về. Trong lúc chị C đang chằng buộc máy cấy thì T đi xuống ruộng tháo nước. Lúc này anh Nguyễn Văn T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612 đi từ hướng Quốc lộ B vào bản Noong Nhai 2, xã T, huyện Đ do không chú ý quan sát và không giảm tốc độ nên xe mô tô do anh T2 điều khiển đã va quệt vào vùng thắt lưng người chị C rồi đâm vào phía sau bên phải của chiếc máy phay do T đang để trên lòng đường cùng chiều đi với T2 làm xe mô tô đổ xuống đường, anh T2 bị ngã xuống đường. Hậu quả anh T2 tử vong trên đường đi cấp cứu. Chị Lò Thị C bị xây xước nhẹ, không yêu cầu giám định thương tích.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 04/TT ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn T2 là do chấn thương ngực - bụng (gãy nhiều xương sườn, đụng dập và rách phổi, vỡ lách). Xét nghiệm ma túy (Test nhanh) kết quả: Dương tính.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612; 01 máy phay có số máy 1609228073; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-593.28; 01 xe thùng ba bánh. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 máy phay có số máy 1611158490. Ngày 27/9/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho Cà Văn T xe mô tô biển kiểm soát 27B1-593.28; 01 máy phay có số máy 1611158490; 01 xe thùng ba bánh.

Ngày 08/11/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 01 máy phay có đầu nổ có số máy 1609228073, 01 xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX.

Bản cáo trạng số: 232/CT-VKS-HĐB ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn T về tội: "Cản trở giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 261, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS, Điều 100 Luật THAHS, xử phạt bị cáo Cà Văn T phạm tội Cản trở giao thông đường bộ, mức hình phạt từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Cà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Cà Văn T. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  • Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 03 ngày 11/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Điện Biên đối với Cà Văn T.
  • Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
  • Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại cho bị cáo 01 máy phay có số máy 1609228073; trả lại cho chị Nguyễn Thị T4 là đại diện theo pháp luật của bị hại 01 xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612, 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX.
  • Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo đồng ý và không tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Cà Văn T khai nhận: Ngày 14/01/2024, tại khu vực đường cánh đồng thuộc đội G, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Cà Văn T đã có hành vi để máy phay lấn chiếm lòng đường, gây cản trở giao thông đường bộ làm anh Nguyễn Văn T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612 sau khi va quệt vào người chị Lò Thị C đã đâm vào phía sau bên phải chiếc máy phay của Cà Văn T hậu quả anh Nguyễn Văn T2 tử vong.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Cản trở giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự; vi phạm khoản 2 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 261 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm chết 01 người;”

Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm.

“……… 2. Đào, khoan, xẻ đường trái phép; đặt, để chướng ngại vật trái phép trên đường; đặt, rải vật nhọn, đổ chất gây trơn trên đường; để trái phép vật liệu, phế thải, thải rác ra đường; mở đường, đấu nối trái phép vào đường chính; lấn, chiếm hoặc sử dụng trái phép đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ; tự ý tháo mở nắp cống, tháo dỡ, di chuyển trái phép hoặc làm sai lệch công trình đường bộ;"

Bị cáo Cà Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn T về tội: "Cản trở giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi để máy phay lấn chiếm lòng đường, gây cản trở giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm anh Nguyễn Văn T2 tử vong, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, để máy phay lấn chiếm lòng đường, gây cản trở giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm anh Nguyễn Văn T2 tử vong. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại xong về trách nhiệm dân sự, gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và người bị hại cũng có lỗi, nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Như vậy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, bị cáo có nhân thân lai lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, tại nơi cư trú bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, có chính quyền địa phương xác nhận. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, đồng thời giao cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo với mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Ngoài hình phạt chính, Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án ...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thu nhập chủ yếu từ nghề làm ruộng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng:

Ngày 27/9/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho Cà Văn T và Lò Thị C 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-593.28; 01 máy phay có số máy 1611158490; 01 xe thùng ba bánh theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1522 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ. Xét thấy, việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra.

Đối với 01 máy phay có đầu nổ có số máy 1609228073 của bị cáo Cà Văn T và chị Lò Thị C; 01 xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612 và 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX của bị hại Nguyễn Văn T2. Hội đồng xét xử cần tuyên trả lại cho bị cáo Cà Văn T và chị Lò Thị C 01 máy phay có đầu nổ có số máy 1609228073 và trả lại cho chị Nguyễn Thị T4 (vợ bị hại Nguyễn Văn T2) 01 xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612 và 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6] Về các vấn đề khác: Bị hại Nguyễn Văn T2 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ không tuân thủ về tốc độ xe chạy trên đường, không chú ý quan sát, đã sử dụng chất ma tuý khi tham gia giao thông, nhưng T2 đã tử vong, nên không đặt vấn đề xử lý.

[7] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 70.000.000 đồng, bao gồm các khoản: Tiền mai táng phí, tổn thất về tinh thần, tính mạng (Theo Biên bản thỏa thuận bồi thường ngày 31/01/2024 giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại). Chị Nguyễn Thị T4 (Vợ bị hại Nguyễn Văn T2) đã nhận đủ số tiền 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng) và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại.

Chị Lò Thị C không yêu cầu giải quyết về bồi thường dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Cà Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: "Cản trở giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự; b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cà Văn T 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Cà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Cà Văn T phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự.

    Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

    • Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 03/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Cà Văn T.
    • Áp dụng khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự: Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Cà Văn T.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
      • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) máy phay có đầu nổ mang thương hiệu CHANG FA DONGLI có số máy 1609228073, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra các thiết bị bên trong.
      • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị T4 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25F1-1612 nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu đỏ, số máy: 0091824, số khung: 092336. Xe cũ, đã qua sử dụng, có một số bộ phận bị hư hỏng: Xe có 1 bên chiếu hậu bên trái, không có gương chiếu hậu bên phải, C1 yếm bên trái bị vỡ, C1 yếm bên phải bị nứt, Ốp nhựa phía trước, bên dưới chỗ ngồi người điều khiển xe bị nứt vỡ, tuột chốt, biến dạng; Ốp nhựa sườn bên trái bị nứt, xước nhiều vết; Yên xe phía sau bị rách, móc yên xe bị gãy rời khỏi vị trí; Ốp nhựa phía trên đèn chiếu hậu bị vỡ, gẫy, biến dạng; Không có chìa khóa xe và 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX màu trắng, đen đã qua sử dụng.

    Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản về việc kiểm tra, xác định vật chứng và giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

    • Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số: 1522 ngày 27/9/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  4. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của gia đình bị cáo Cà Văn T và gia đình bị hại Nguyễn Văn T2 đối với số tiền 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng) theo Biên bản thỏa thuận bồi thường ngày 31/01/2024 giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại (BL số: 339, 340).
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Cà Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án; chị Nguyễn Thị T4 (là Người đại diện hợp pháp của bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - UBND xã Thanh Xương, huyện ĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người đại diện theo pháp luật;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về cản trở giao thông đường bộ

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cản trở giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger